|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 73/2024/HSST Ngày 30 - 7 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Trọng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Tài
Bà Đỗ Thị Kim Thúy
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Thùy Dương – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà:
Ông Vũ Văn Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HS ngày 24/6/2024 đối với các bị cáo:
- Hoàng Thị T, sinh ngày 28/9/1974; tại thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: TDP Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 04/12; Đảng đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn N và bà Nguyễn Thị X (đều đã chết); có chồng là Nguyễn Văn Q và có 03 con; tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân: tại Bản án số 161/HSST ngày 09/11/2000 của TAND tỉnh Phú Thọ xử phạt 12 năm tù về tội Tàng trữ và lưu hành tiền giả, ngoài ra T còn phải chịu 10.000.000đ tiền phạt và 50.000đ tiền án phí. Ngày 30/8/2010, T chấp hành xong hình phạt tù, ngày 11/01/2010, T chấp hành xong tiền phạt và án phí (đã được xoá án). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tại ngoại tại địa phương nơi cư trú. “Có mặt”.
- Lê Huy T1, sinh ngày 16/9/1978; tại thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: TDP Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng đoàn thể: Không; con ông Lê Huy B và bà Phùng Thị V; có vợ là Vũ Thị M và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương, “Có mặt”.
- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Đình T2, sinh năm 1958; địa chỉ: TDP D, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Ông Trần Văn D, sinh năm 1965; địa chỉ: TDP D, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Anh Nguyễn Thành C, sinh năm 1985; địa chỉ: TDP S, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Anh Phan Văn A, sinh năm 1982; địa chỉ: TDP Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Ông Trần Anh T3, sinh năm 1965; địa chỉ: TDP Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong quá trình sinh sống và làm việc tại địa phương, Hoàng Thị T thấy có nhiều người lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng hàng ngày để đánh bạc bằng hình thức mua, bán số lô, số đề nên T đã nảy sinh ý định làm chủ 01 bảng lô, đề để thu gom bảng lô, đề của các thư ký và trực tiếp bán số lô, số đề cho những người chơi có nhu cầu mua trên địa bàn phường Đ, thành phố V. Sau đó, T liên hệ với Nguyễn Đình T2 để T2 làm thư ký, trực tiếp bán số lô, số đề cho người mua rồi tập hợp chuyển lại cho T; ngoài ra T cũng trực tiếp bán số lô, số đề cho những người mua. Khi thực hiện hành vi đánh bạc T sử dụng 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 bên trong lắp sim số thuê bao 0982.063.722 để nhận các tin nhắn có nội dung mua, bán số lô, số đề với T2 và người chơi. Sau khi nhận các tin nhắn có nội dung mua số lô, số đề của người chơi, nếu đồng ý nhận các số lô, số đề mà người chơi nhắn tin mua thì T nhắn tin trả lời xác nhận “Ok”, việc trả tiền mua số lô, số đề và tiền thắng thua T thanh toán với những người mua sau khi có kết quả. Thư thỏa thuận với T2 và những người chơi giá một điểm lô là 22.000đ; số đề, số đề 3 càng Thư tính giá 75%; lô xiên tính giá 65%.
Việc tính thắng, thua, mức trả thưởng giữa T với T2 và những người chơi là như nhau, đều căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng hồi 18h15' hàng ngày. Đối với số đề, dựa vào kết quả của giải đặc biệt, nếu số đề mua trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt thì người mua trúng đề, được trả tiền gấp 70 lần số tiền mua số đề; đối với số đề ba càng, nếu số đề ba càng mua trùng với 03 số cuối của giải đặc biệt thì người mua trúng đề ba càng được trả gấp 400 lần số tiền mua số đề ba càng đó (số tiền ghi trong tin nhắn mua số đề).
Đối với số lô, nếu số lô người chơi mua trùng với 02 số cuối của bất kì giải thưởng nào kết quả xổ số miền B thì người mua trúng lô, được trả số tiền 80.000đ/ 01 điểm, nếu số lô mua trùng với 02 số cuối của nhiều giải thì được tính trúng nhiều lần. Đối với lô xiên hai, xiên ba, xiên bốn nếu tất cả các số lô trong cặp lô xiên trùng với hai số cuối của tất cả các giải thưởng kết quả xổ số miền B thì được trả thưởng gấp 10 lần số tiền mua đối với lô xiên hai, gấp 40 lần tiền mua đối với mua lô xiên ba, gấp 100 lần đối với lô xiên bốn. Trường hợp người chơi mua số đề, số đề ba càng, lô xiên không trúng thì phải trả số tiền sau khi đã trừ phần trăm chiết khấu như đã thỏa thuận. Căn cứ kết quả điều tra, xác định từ ngày 05/01/2024 đến ngày 10/01/2024, Hoàng Thị T đánh bạc bằng hình thức bán các số lô, số đề với Nguyễn Đình T2 và Lê Huy T1 như sau:
- Hành vi đánh bạc giữa Hoàng Thị T và Nguyễn Đình T2: Sau khi thỏa thuận làm thư ký cho T, T2 đã trực tiếp bán số lô, số đề cho người chơi giá 22.500đ/01 điểm lô; số đề, số đề ba càng, lô xiên thì T2 đều không chiết khấu hoa hồng mà thu đủ số tiền người chơi đã mua rồi tập hợp chuyển bảng cho T. Kết quả điều tra xác định ngày 10/01/2024, T2 đã sử dụng điện thoại S1 lắp sim có số thuê bao 0961.340.254 bán số lô, số đề cho Trần Anh T3, sinh năm 1965, trú tại: TDP Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc và 01 nam giới tên là T4 nhà ở phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Cụ thể như sau:
- Hành vi T2 bán số lô, số đề cho Trần Anh T3: Ngày 10/01/2024, T3 sử dụng số điện thoại 0776.440.xxx nhắn tin đến số điện thoại 0961.340.xxx của T2 để mua các số lô, số đề sau:
+ Tin nhắn 1 lúc 17 giờ 14 phút: T3 nhắn tin cho Thu mua các số đề gồm: tổng 5 gồm 10 số: 05, 50, 14, 41, 23, 32, 69, 96, 78, 87 mỗi số 10.000đ = 100.000đ; số đề tổng 10 gồm 10 số: 10, 19, 91, 28, 82, 37, 73, 46, 64, 55 mỗi số 10.000đ = 100.000đ; số đề dây 00 gồm 04 số: 00, 05, 50, 55 mỗi số 30.000đ = 120.000đ; số đề tổng 1 gồm 10 số: 01, 10, 29, 92, 38, 83, 47, 74, 56, 65 mỗi số 10.000đ = 100.000đ; số đề tổng 6 gồm 10 số: 06, 60, 15, 51, 24, 42, 33, 79, 97, 88 mỗi số 10.000đ = 100.000đ; số đề dây 01 gồm 08 số: 01, 10, 15, 51, 06, 60, 56, 65 mỗi số 10.000đ = 80.000đ; số đề dây 02 gồm 08 số: 02, 20, 07, 70, 52, 25, 75, 57 mỗi số 10.000đ = 80.000đ; số đề thấp thấp gồm 25 số: 01, 02, 03, 04, 10, 11, 12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 24, 30, 31, 32, 33, 34, 40, 41, 42, 43, 44 mỗi số 10.000đ = 250.000đ; số đề chẵn chẵn gồm 25 số: 00, 02, 04, 06, 08, 20, 22, 24, 26, 28, 40, 42, 44, 46, 48, 60, 62, 64, 66, 68, 80, 82, 84, 86, 88 mỗi số 10.000đ = 250.000đ; số đề 23, 32, 29, 92, 28, 82, 24, 42, 46, 64 mỗi số 10.000đ = 100.000đ. Tổng số tiền mua các số đề tin nhắn 1 là 1.280.000đ.
+ Tin nhắn 2 lúc 17 giờ 42 phút: T3 tiếp tục nhắn tin cho T2 để mua các số đề: số 25, 52 mỗi số = 100.000đ; số 25 = 60.000đ; số đề dây 02 gồm 08 số: 02, 20, 07, 70, 52, 25, 75, 57 mỗi số 20.000đ = 160.000đ; số đề dây 11 gồm 04 số: 11, 66, 16, 61 mỗi số 20.000đ = 80.000đ; số đề dây 12 gồm 08 số: 12, 21, 26, 62, 17, 71, 67, 76 mỗi số 20.000đ = 160.000đ; số đề dây 00 gồm 04 số 00, 05, 50, 55 mỗi số 50.000đ = 200.000đ; số đề 68, 86, 87, 78, 39, 93, 17, 71, 01, 10 mỗi số 20.000đ = 200.000đ; số đề 36, 63 mỗi số 12.000đ = 24.000đ; lô xiên 3: 63, 39, 93 = 20.000đ. Tổng số tiền mua các số đề tin nhắn 2 là 1.104.000đ. Sau khi nhận được 02 tin nhắn của T3, T2 nhắn lại “OK”.
Sau khi biết T2 bị Cơ quan điều tra triệu tập để làm việc, Trần Anh T3 đã vứt bỏ chiếc điện thoại lắp sim số 0776.440.xxx đã nhắn tin cho T2 để mua số lô, số đề. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.
Tổng số tiền T3 mua các số lô, số đề của T2 trong ngày 10/01/2024 là 2.384.000đ, số tiền này T3 chưa thanh toán trả cho T2.
- Hành vi bán số đề cho người sử dụng số điện thoại 0965.683.xxx: Tại Cơ quan điều tra T2 khai người sử dụng số thuê bao 0965.683.495 là nam giới tên T4, vợ tên là T5 làm nghề xe ôm nhà ở phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 10/01/2024, T4 sử dụng số điện thoại 0965.683.xxx nhắn tin cho T2 để mua số đề có nội dung “Đề 09 - 40k” (nghĩa là T4 mua số đề 09 = 40.000đ). Sau khi nhận được tin nhắn của T4, T2 nhắn lại “OK”.
Sau khi nhận các tin nhắn mua số lô, số đề của Trần Anh T3, T4 như nêu trên T2 đã tập hợp lại và sử dụng số điện thoại 0961.340.xxx nhắn tin nhắn đến số điện thoại 0982.063.xxx của Hoàng Thị T để chuyển các số lô, số đề cho T gồm: Tin nhắn 1 lúc 17 giờ 56 phút: T2 nhắn tin chuyển cho Thư các số đề: các số 39, 93, 29, 92 mỗi số 10.000đ = 40.000đ; số đề ba càng 392, 293, 511 mỗi số 20.000đ = 60.000đ. Tổng số tiền mua các số đề tin nhắn này là 100.000đ. Tin nhắn 2 lúc 18 giờ 05 phút: T2 chuyển cho T số đề 09 = 40.000đ. Đối với các số đề, số lô xiên còn lại mà Trần Anh T3 nhắn tin mua của T2 vào ngày 10/01/2024, T2 chưa kịp tổng hợp để chuyển lại cho T thì bị Cơ quan điều tra phát hiện và triệu tập lên làm việc.
Tổng số tiền T2 chuyển số lô, số đề cho Thư ngày 10/01/2024 là 140.000đ. T2 vẫn chưa thanh toán trả T số tiền này.
- Hành vi đánh bạc giữa Hoàng Thị T và Lê Huy T1:
Khoảng 17 giờ ngày 10/01/2024, T1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, bên trong máy lắp sim số 0388.800.698 nhắn tin SMS đến số điện thoại 0982.063.xxx của T để mua các số lô, số đề, cụ thể:
- Tin nhắn 1 lúc 16 giờ 45 phút: T1 nhắn tin cho T mua các số đề gồm: đầu 3, đít 3 tổng là 20 số, gồm các số 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 03, 13, 23, 33, 43, 53, 63, 73, 83, 93 mỗi số 50.000đ. tổng = 1.000.000đ; các số đề 14, 41, 19, 91, 46, 64, 96, 69 mỗi số 50.000đ = 400.000đ; các số đề 34, 43, 39, 93 89, 98, 48, 84 mỗi số 50.000đ = 400.000đ; các số đề 48, 84, 38, 83, 14, 41, 44, 33, 49, 94, 99 mỗi số 100.000đ = 1.100.000đ. Tổng số tiền mua các số đề tin nhắn này = 3.300.000đ. Sau khi nhận được tin nhắn của T1, T nhắn lại “OK1”.
- Tin nhắn 2 lúc 16 giờ 58 phút: T1 tiếp tục nhắn tin cho T mua các số lô: 83, 28, 49, 94, 87, 34 mỗi số 20 điểm, tổng = 80 điểm x 22.000đ/điểm = 2.640.000đ; lô xiên quây 34, 83, 94, 87 gồm 11 cặp: 34-83, 34-94, 34-87, 83-94, 83-87, 94-87, 34-83-94, 34-83-87, 34-94-87, 83-94-87, 34-83-94-87, mỗi cặp lô xiên 50.000đ = 550.000đ; lô xiên quây 43, 78, 49, 28 gồm 11 cặp: 43-78, 43-49, 43-28, 78-49, 78-28, 49-28, 43-78-48, 43-78-28, 43-49-28, 78-49-28, 43-78-49-28 mỗi cặp lô xiên 50.000đ = 550.000đ; các số đề 38, 83, 18, 81, 28, 82 mỗi số 100.000đ = 600.000đ. Tổng số tiền mua các số lô, số đề, lô xiên ở tin nhắn 2 là 4.340.000đ.
Sau khi nhận được tin nhắn của T1, T nhắn lại “OK2”.
- Tin nhắn 3 lúc 17 giờ 56 phút: T1 tiếp tục nhắn tin cho T mua các số đề 04, 40, 09, 90, 54, 45, 59, 95 mỗi số 50.000đ = 400.000đ; Các số đề 18, 81, 58, 85 mỗi số 100.000đ= 400.000đ. Tổng số tiền mua các số đề tin nhắn 3 là 800.000. Sau khi nhận được tin nhắn của T1, T nhắn tin lại “OK3”.
- Tin nhắn 4 lúc 18 giờ 25: Trung nhắn tin cho T mua số đề 86 = 150.000đ; 08 = 200.000đ. Tuy nhiên T chưa nhắn tin trả lời đồng ý bán các số đề này cho T1 thì bị Cơ quan điều tra phát hiện và triệu tập lên làm việc.
Tổng số tiền T1 mua các số lô, số đề, lô xiên của T trong ngày 10/01/2024 = 8.440.000đ. Thời điểm hành vi đánh bạc của T, T1 bị Cơ quan điều tra phát hiện thì chưa có kết quả xổ số miền B nên chưa xác định được việc thắng thua. Do vậy, số tiền T1 phải thanh toán cho T để mua các số lô, số đề là 8.440.000đ, số tiền này T1 vẫn chưa thanh toán cho T.
Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã thu giữ của Nguyễn Đình T2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 màu đen; thu giữ của Lê Huy T1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 màu xanh; tạm giữ của Hoàng Thị T số tiền 130.830.000đ, 01 máy tính cầm tay nhãn hiệu CASIO, 01 bút bi màu xanh, 01 mảnh giấy ghi số lô, số đề.
Đối với chiếc điện thoại Iphone 7 của T, tại cơ quan điều tra T khai: chiều ngày 10/01/2024, khi T đang ở trên tầng hai của nhà mình để ghi số lô, số đề cho người mua thì T thấy có lực lượng Công an đi vào nhà mình, T hoảng sợ nên đã ném bỏ chiếc điện thoại của T ra phía sau nhà (khu dân cư). Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.
Ngày 01/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V ra Quyết định trưng cầu giám định số 498, 499 trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh V giám định khôi phục, trích xuất dữ liệu cuộc gọi đi, cuộc gọi đến, tin nhắn đi, tin nhắn đến trong ứng dụng SMS, ứng dụng Zalo đối với 02 chiếc điện thoại di động tạm giữ của T2 và của T1.
- Tại bản Kết luận giám định số 993 ngày 12/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh V giám định đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 màu đen của T2 kết luận: “Khôi phục, trích xuất được dữ liệu lưu trên điện thoại và thẻ sim gửi giám định. Qua phân tích tìm kiếm dữ liệu trong thời gian từ ngày 05/01/2024 đến ngày 10/01/2024 thu được 04 cuộc gọi và 13 tin nhắn SMS”.
- Tại bản Kết luận giám định số 994 ngày 12/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh V giám định đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53, màu xanh của T1 kết luận: “Khôi phục, trích xuất được dữ liệu lưu trên điện thoại và thẻ sim gửi giám định. Qua phân tích tìm kiếm dữ liệu trong thời gian từ ngày 05/01/2024 đến ngày 10/01/2024 thu được 238 cuộc gọi và 46 tin nhắn SMS, 67 tin nhắn Zalo".
Nghiên cứu các bản phụ lục kèm theo các bản Kết luận giám định số 993 và 994 của Phòng K1 Công an tỉnh V thấy: Có tin nhắn SMS về việc T2 chuyển các số lô, số đề cho T; có các tin nhắn của T1 mua các số lô, số đề của Thư ngày 10/01/2024 như nội dung đã nêu ở phần trên. Ngoài ra còn thể hiện tin nhắn S2 mua bán số lô, số đề với Nguyễn Thành C, sinh năm 1985; Phan Văn A, sinh năm 1982 và Trần Văn D, sinh năm 1965 đều trú tại phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, cụ thể như sau:
- Hành vi đánh bạc của Lê Huy T1 với Nguyễn Thành C: Ngày 09/01/2024, C sử dụng tài khoản zalo “Thanhchung” đăng ký bằng số điện thoại 0987.364.xxx, nhắn tin đến tài khoản zalo “Huy Trung”, đăng ký bằng số điện thoại 0985.146.xxx của T1 để mua các số đề: Số 01, 10, 07, 70 mỗi số 45.000đ, tổng = 180.000đ. Sau khi nhận số lô, số đề của C thì T1 đã chuyển toàn bộ cho Trần Văn D để hưởng tiền chênh lệch hoa hồng. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền bắc mở thưởng ngày 09/01/2024, xác định các số đề C mua đều không trúng. Số tiền 180.000đ C chưa thanh toán cho T1.
Tại Cơ quan điều tra C khai chiếc điện thoại sử dụng để nhắn tin mua số lô, số đề với T1 đã bị mất. Do vậy Cơ quan điều tra không thu giữ được. Sau khi được xem các tin nhắn của C gửi cho T1 tại phụ lục kèm theo bản Kết luận giám định, C công nhận đúng là các tin nhắn C gửi cho T1 ngày 09/01/2024.
- Hành vi đánh bạc của Lê Huy T1 với Phan Văn A: Ngày 10/01/2024, Anh sử dụng tài khoản zalo “Van Anh Phan” đăng ký bằng số điện thoại 0985.297.xxx, nhắn tin đến tài khoản zalo “Huy Trung” của T1 để mua số đề 48, 84 mỗi số là 60.000đ = 120.000đ. Số tiền này Anh chưa thanh toán cho T1.
Tại Cơ quan điều tra Anh khai chiếc điện thoại sử dụng để nhắn tin mua số lô, số đề với T1 đã bị mất. Do vậy Cơ quan điều tra không thu giữ được. Sau khi được xem các tin nhắn của Anh gửi cho T1 tại phụ lục kèm theo bản Kết luận giám định, Anh công nhận đúng là các tin nhắn Anh gửi cho T1 ngày 10/01/2024.
- Hành vi đánh bạc của Lê Huy T1 với Trần Văn D: Do biết D làm thư ký bán số lô, số đề cho người chơi nên ngoài việc mua các số lô, số đề của T, thì T1 còn liên hệ với D để mua các số lô, số đề của D. Ngày 10/01/2024, sau khi T1 nhận các số đề của Phan Văn A, thì T1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 bên trong máy lắp sim số thuê bao 0388.800.698 nhắn tin nhắn đến số điện thoại 0868.454.xxx của D để mua số lô, số đề của D; cụ thể như sau:
+ Tin nhắn 1: T1 mua các số đề đầu 3, đít 3 gồm: 03, 13, 23, 33, 43, 53, 63, 73, 83, 93, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39 mỗi số 50.000đ = 1.000.000đ; số đề dây 48 gồm: 39, 93, 48, 84, 43, 34, 89, 98 mỗi số 50.000đ = 400.000đ; số đề 48, 84, 38, 83 mỗi số 100.000đ = 400.000đ. Tổng số tiền T1 mua các số đề tại tin nhắn này là 1.800.000đ. Trong các số đề Trung chuyển cho D tại tin nhắn này thì có số đề 48, 84 = 120.000đ là của Phan Văn A mua; các số đề còn lại đều là của T1.
+ Tin nhắn 2: T1 mua số lô xiên 4 gồm 98, 18, 34, 49 = 50.000đ; số đề 18, 81, 19, 91, 13, 31, 49, 94, 39, 93, 23, 32, 78, 87, 14, 41, 49, 94 mỗi số 30.000đ = 540.000đ. Tổng số tiền T1 mua các số lô, đề của tin nhắn 2 là 590.000đ.
Sau khi nhận được tin nhắn của T1, thì D đã nhắn tin nội dung “ok 2” xác nhận đồng ý nhận các tin nhắn đánh bạc của T1. Tổng số tiền T1 mua số lô, số đề của D ngày 10/01/2024 là 2.390.000đ.
Tại Cơ quan điều tra Trần Văn D khai nhận: Bản thân D là thư ký lô, đề cho một người nam giới không rõ tên tuổi mà D quen tại quán nước. Khoảng 18h15 phút hàng ngày người đàn nam giới này sẽ đi đến nhà D để thu bảng lô, đề và thanh toán tiền thắng thua trực tiếp bằng tiền mặt. Bản thân D không biết tên, tuổi, địa chỉ của người nam giới nhận bảng lô, đề mà D chuyển; do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ xử lý đối với người nam giới này.
Đối với chiếc điện thoại D sử dụng nhận các số lô, số đề của Lê Huy T1 thì sau khi biết việc cơ quan điều tra triệu tập làm việc đối với T1, thì D đã vứt bỏ chiếc điện thoại này. D không nhớ là vứt bỏ ở vị trí nào. Do vậy, Cơ quan điều tra không thu giữ được. Sau khi được xem các tin nhắn của T1 gửi cho D tại phụ lục kèm theo bản Kết luận giám định, D công nhận đúng là các tin nhắn T1 gửi cho D ngày 10/01/2024.
Tại Cơ quan điều tra, T, T1, T2, D còn khai rằng: Ngoài các lần đánh bạc lô, đề như đã nêu trên thì T, T1, T2, D còn mua bán lô, đề một số lần khác ở các ngày trước. Tuy vậy, đến nay không nhớ là mua lần nào, ngày nào, mua bán lô, đề với ai, bao nhiêu tiền, nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác định.
Tại bản Cáo trạng số 66/CT-VKS-P2 ngày 31/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Hoàng Thị T và bị cáo Lê Huy T1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hoàng Thị T và bị cáo Lê Huy T1 phạm tội “Đánh bạc”.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Thư t 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Huy T1 từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo cho Uỷ ban nhân dân nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bị cáo T2 và bị cáo T1 mỗi bị cáo số tiền từ 10.000.000đ đến 12.000.000đ sung ngân sách nhà nước.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý về vật chứng vụ án.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm ông Nguyễn Đình T2, ông Trần Văn D, anh Nguyễn Thành C, anh Phan Văn A và ông Trần Anh T3 vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên quá trình điều tra trình bày các nội dung phù hợp với lời trình bày của các bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, tất cả đều không có ý kiến gì và đề nghị giải quyết vụ án theo quy định.
Các bị cáo nói lời sau cùng, do nhận thức pháp luật hạn chế đã vi phạm pháp luật nên rất ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra tỉnh Vĩnh Phúc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T và bị cáo T1 đã khai nhận rõ toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với các tình tiết khách quan đã được cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đúng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận về hành vi phạm tội của các bị cáo như sau: Do có mối quan hệ quen biết nhau nên Lê Huy T1 đã nhắn tin trên điện thoại di động để đánh bạc trái phép với Hoàng Thị T với hình thức ghi số lô, số đề. Khoảng 17 giờ ngày 10/01/2024, Lê Huy T1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, bên trong máy lắp sim số 0388.800.698 nhắn tin SMS đến số điện thoại 0982.063.xxx của Hoàng Thị T để mua các số lô, lô xiên, số đề với tổng số tiền 8.440.000đ. Thời điểm hành vi Đánh bạc của T, T1 bị Cơ quan điều tra phát hiện thì chưa có kết quả xổ số miền B mở thưởng, nên chưa xác định được việc thắng thua. Do vậy, số tiền đánh bạc giữa T và T1 trong vụ án này là 8.440.000đ.
[3]. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trong vụ án này, mặc dù T đứng ra lập 01 đường dây mua bán số lô, số đề và có thoả thuận với Nguyễn Đình T2 là thư ký cho T. Tuy nhiên, số tiền sử dụng vào việc đánh bạc chưa đến 20.000.000đ, số người đánh bạc với T2 và T chưa đến 10 người; bản thân Thư chưa có tiền án, tiền sự về hành Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc hay Gá bạc. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo T và bị cáo T1 phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[4]. Xét tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Đánh bạc là tệ nạn xã hội cần lên án, là nguyên nhân gây ra rất nhiều mâu thuẫn, phá vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình; chính cờ bạc cũng là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác như ma túy, trộm cắp, cướp giật. Vì vậy, cần phải xử lý các bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5]. Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, thấy rằng:
[5.1]. Bị cáo T, T1 quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo T1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo T xuất trình đơn có xác nhận của chính quyền địa phương, gia đình bị cáo điều kiện khó khăn, bị cáo đang phải nuôi mẹ già, chồng bị cáo hay đau ốm bị cáo là lao động chính, bản thân bị cáo tích cực tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa của địa phương, tháng 01/2024 bị cáo đã 02 lần ủng hộ vật chất (tiền) đối với Q1 vì người nghèo và Quỹ đền ơn đáp nghĩa của Phường Đ. Bị cáo T1 có bố đẻ là ông Lê Huy B là Thương binh loại A, thương tật hạng 4; ông B là người có công với nước được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ giải phóng, bản thân ông B tham gia kháng chiến chống Mỹ và bị nhiễm chất độc hóa học được hưởng chế độ hàng tháng. Do đó bị cáo T và bị cáo T1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của bộ luật Hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5.2]. Bị cáo T mặc dù có nhân thân năm 2000 đã từng bị xét xử về tội Tàng trữ, lưu hành tiền giả, tuy nhiên đã được xóa án tích từ rất lâu, lần phạm tội trước khác loại, không liên quan hành vi đánh bạc, lần phạm tội này số tiền bị cáo sử dụng đánh bạc không nhiều, bị cáo là phụ nữ hoàn cảnh gia đình khó khăn, nuôi mẹ già, chồng bị cáo không có công ăn việc làm sức khỏe kém bị cáo đang là lao động chính. Bị cáo T1 trước khi phạm tội có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
[5.3]. Bị cáo T, T1 đều có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, quá trình điều tra hết sức thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và được hưởng rất nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, do đó đáng được hưởng khoan hồng của pháp luật đủ điều kiện áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, không cần thiết bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam, mà cho các bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách gấp đôi, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung và giáo dục riêng, tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội được tự cải tạo, sửa chữa sai lầm để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Cần phạt bổ sung một số tiền để sung ngân sách nhà nước đối với các bị cáo.
[7]. Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 màu đen thu giữ của Nguyễn Đình T2. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã chuyển chiếc điện thoại tạm giữ của T2 đến Phòng CSĐTTP về TTXH Công an tỉnh V để xử phạt hành chính đối với T2 theo quy định.
[7.1]. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 màu xanh thu giữ của Lê Huy T1. Kết quả điều tra xác định T1 sử dụng chiếc điện thoại này để nhắn tin cho Hoàng Thị T và các đối tượng khác để đánh bạc. Do vậy cần tịch thu bán phát mại nộp tiền vào ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 130.830.000đ thu giữ của T không liên quan đến hành vi mua bán số lô, số đề. Do vậy, cần trả lại cho T, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án. Đối với 01 chiếc máy tính cầm tay nhãn hiệu CASIO đã cũ, 01 bút bi màu xanh. T sử dụng để tính toán bảng lô, đề do vậy cần tịch thu tiêu huỷ chiếc máy tính và bút bi này. Đối với 01 mảnh giấy ghi số lô, số đề thu giữ của T cần lưu hồ sơ vụ án để phục vụ xét xử.
[7.2]. Đối với số tiền đánh bạc các bị cáo và các đối tượng đã thanh toán và chưa thanh toán cho nhau cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước, cụ thể: Truy thu đối với Nguyễn Đình T2 140.000đ, Lê Huy T1 số tiền 10.824.000đ (trong đó 8.440.000đ tiền mua số đề của T, 2.390.000đ là tiền mua số đề của D), Trần Anh T3 số tiền 2.384.000đ, Nguyễn Thành C số tiền 180.000đ, Phan Văn A số tiền 120.000đ.
[8]. Đối với các đối tượng Nguyễn Đình T2, Trần Văn D, Phan Văn A, Nguyễn Thành C và Trần Anh T3 kết quả điều tra xác định: T2 là thư ký bán số lô, số đề cho người chơi sau đó tập hợp chuyển bảng lô, đề cho Hoàng Thị T. Ngày 10/01/2024, T2 đánh bạc bằng hình thức mua, bán bán số đề với Hoàng Thị T, Trần Anh T3 và với người có tên là T4 với tổng số tiền là 2.524.000đ; ngày 10/01/2024, D làm thư ký lô, đề bán số lô, số đề cho Lê Huy T1 với tổng số tiền là 2.390.000đ; ngày 09/01/2024, Phan Văn A đánh bạc bằng hình thức mua số đề của Lê Huy T1 với tổng số tiền là 120.000đ, ngày 10/01/2024, Nguyễn Thành C có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề với Lê Huy T1 với tổng số tiền 180.000đ; ngày 10/01/2024, Trần Anh T3 đánh bạc bằng hình thức mua số đề của Nguyễn Đình T2 với tổng số tiền là 2.384.000đ
[8.1]. Bản thân Nguyễn Đình T2, Trần Văn D, Phan Văn A, Nguyễn Thành C và Trần Anh T3 chưa có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc. Do vậy, hành vi của T2, D, A, C và T3 không cấu thành tội Đánh bạc mà chỉ là vi phạm hành chính. Do đó Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với T2, D, A, C và T3 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[9]. Kết quả xác định thông tin thuê báo số điện thoại:
[9.1]. Đối với số điện thoại 0965.683.xxx, chủ thuê bao là anh Lại Đăng S, sinh năm 1998, ở phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại Cơ quan điều tra anh S khai: anh S hiện tại là nhân viên bán hàng của cửa hàng T6 tại phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, từ tháng 12/2021 cho đến nay. Bản thân anh S đang sử dụng 02 số điện thoại là 0859.328.xxx và 0862.383.098, anh S chưa bao sử dụng số điện thoại 0965.683.xxx. Quá trình bán hàng tại Cửa hàng T6 di động nếu có khách hàng đến mua sim số điện thoại, nhân viên sẽ đăng ký sim số điện thoại cho khách. Nếu khách không mang theo căn cước công dân thì nhân viên của thế giới di động sẽ đăng ký thông tin thuê bao cho khách bằng chính thông tin cá nhân của mình. Anh S không nhớ có đăng ký số điện thoại 0965.683.xxx cho ai và không biết ai đang sử dụng số điện thoại này.
[9.2]. Đối với số điện thoại 0776.440.xxx, chủ thuê bao là anh Nguyễn Xuân K, sinh năm 1988, ở xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại Cơ quan điều tra anh K khai: Từ trước đến nay anh K chỉ dùng 02 số điện thoại gồm số 0354.030.xxx và số 0962554276. Anh K chưa bao giờ dùng số điện thoại 0776.440.xxx, anh K không biết ai là người sử dụng số điện thoại này, không biết tại sao số điện thoại này lại được đăng ký chính chủ mang tên anh.
[10]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo T và bị cáo T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T và bị cáo Lê Huy T1 phạm tội “Đánh bạc”.
1. Hình phạt chính:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị T 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Huy T1 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm, 06 (Sáu) tháng thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hoàng Thị T và bị cáo Lê Huy T1 cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về hình phạt bổ sung:
Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự: Phạt bổ sung Hoàng Thị T và Lê Huy T1 mỗi bị cáo số tiền 10.000.000đ sung ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu bán phát mại nộp tiền vào ngân sách Nhà nước đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 màu xanh thu giữ của Lê Huy T1 sử dụng vào việc phạm tội.
- - Trả lại cho Hoàng Thị T số tiền 130.830.000đ không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Tịch thu tiêu hủy đối với 01 chiếc máy tính cầm tay nhãn hiệu CASIO, 01 bút bi màu xanh sử dụng vào việc phạm tội.
- - Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền đánh bạc các bị cáo và các đối tượng đã thanh toán và chưa thanh toán cho nhau, cụ thể: Truy thu đối với Nguyễn Đình T2 số tiền 140.000đ, Lê Huy T1 số tiền 10.824.000đ (trong đó 8.440.000đ tiền mua số đề của T, 2.390.000đ là tiền mua số đề của D), Trần Anh T3 số tiền 2.384.000đ, Nguyễn Thành C số tiền 180.000đ và Phan Văn A số tiền 120.000đ.
Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng do Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc và Công an tỉnh V lập.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc Hoàng Thị T và Lê Huy T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Xuân Trọng |
Bản án số 73/2024/HSST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 73/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo phạm tội đánh bạc
