Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2023/HNGĐ-ST

Ngày 29 tháng 12 năm 2023

V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Đào

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Nguyễn Huy Trụ

2. Bà Đào Thị Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Trung Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Đinh Diễm Kiều Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 476/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023 giữa; Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11/12/2023:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1974;

Địa chỉ: Tổ E, B, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, có mặt.

Bị đơn: Anh Lương Văn T1, sinh năm 1972

Địa chỉ: Tổ E, B, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Hiện nay đang cải tạo tại Trại Giam S, T, Nghệ An. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh Lương Văn T1 được tự do tìm hiểu, đăng ký kết hôn tự nguyện tại UBND xã D (Nay là phường D), thành phố V, tỉnh Phú Thọ ngày 02/10/1992. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống cùng bố mẹ chồng một thời gian ngắn thì ra ở riêng. Quá trình vợ chồng chung sống không được hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T1 hay chửi, đánh đập chị, có lần anh T1 đánh chị ngất rồi lấy nước đổ vào mặt chị, có lần đánh chị gãy ngón tay. Chị đã nhiều lần làm đơn ly hôn nhưng anh T1 lại xin lỗi níu kéo để hàn gắn tình cảm vợ chồng, khi đó con còn nhỏ nên chị đã bỏ qua. Đến năm 1996 anh T1 phải đi cải tạo, đến năm 1999 thì ra trại. Sau khi anh T1 ra Trại thì cuộc sống vợ chồng ngày càng bất hoà, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Năm 2014 anh T1 lại phải đi chấp hành án 23 (Hai mươi ba) năm về tội trộm cắp tài sản tại Trại giam S, Bộ C. Từ khi chị làm đơn xin ly hôn anh T1 viết thư về đe doạ chị và gia đình nhà chị. Nay chị xác định tình cảm không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị xin được ly hôn với anh T1.

Về con chung: Chị T xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Lương Xuân T2, sinh ngày 11/8/1993 và cháu Lương Xuân T3, sinh ngày 25/4/1995. Hiện nay cả hai cháu đều đã thành niên, lao động tự túc được và đã lập gia đình nên không đề nghị Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Lương Văn T1 tại bản tự khai anh T1 trình bày: Anh và chị T kết hôn ngày 02/10/1992 có đăng ký tại UBND xã D (Nay là phường D), thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn anh và chị T có tìm hiểu và tự nguyện kết hôn. Được hai bên gia đình tổ chức cưới, khi đó cả hai đều lao động tự do. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng gia đình anh một thời gian sau đó ra ở riêng. Đến năm 2010 thì anh làm nhà, số tiền làm nhà phải chi trả là tiền của anh. Quá trình từ ngày kết hôn tới giờ, vợ chồng anh sống bình thường, hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì. Từ ngày 6/1/2014 anh bị bắt đi thi hành án tại trại giam S, Bộ C chị T vẫn lên thăm. Nay chị T làm đơn xin ly hôn, anh không đồng ý.

Về con chung: Anh T1 xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Lương Xuân T2, sinh ngày 11/8/1993 và cháu Lương Xuân T3, sinh ngày 25/4/1995. Hiện nay cả hai cháu đều đã thành niên, lao động tự túc được và đã lập gia đình, nên không đề nghị Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Anh T1 không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Lương Văn T1. Về con chung đều đã thành niên và lao động tự túc được nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản chung, công nợ chung, công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị T xin ly hôn với anh Lương Văn T1 là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Lương Văn T1 có hộ khẩu thường trú tại Tổ E, B, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, do vậy Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Hiện nay anh T1 đang chấp hành án tại trại giam S Bộ C nên Tòa án không tiến hành hòa giải được là phù hợp theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự

Tại phiên tòa, anh T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T1.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Lương Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã D (Nay là phường D), thành phố V, tỉnh Phú Thọ là hôn nhân hợp pháp. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng thực sự không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên xin được ly hôn với anh T1. Về phía anh T1 cho rằng vợ chồng sống bình thường, hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì, anh T1 không nhất trí ly hôn với chị T. Qua xác minh tại chính quyền địa phương UBND phường D có cung cấp cho Tòa án biết như sau: Chị Nguyễn Thị T và anh Lương Văn T1 có hộ khẩu thường trú tại tổ E, khu B, phường D, T. Sau khi kết hôn chị T về sống chung cùng gia đình anh T1, tình cảm vợ chồng bình thường, chị T và anh T1 có mâu thuẫn gì thì chính quyền không biết. Anh T1 hiện nay đang chấp hành án tại trại giam S Bộ C. Hiện nay chị T đã chuyển về nhà mẹ đẻ sinh sống. Nay chị T xin ly hôn anh T1 quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.Tại bản án số 08/2016 Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã tuyên phạt Lương Văn T1 12 năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản” và tổng hợp hình phạt 11 năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản” của bản án số 150/2015/HSST ngày 23/4/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Buộc Lương Văn T1 phải chấp hành hình phạt của 02 bản án là 23 năm tù.

Sau khi xem xét đơn ly hôn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T là có căn cứ, cần được chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Chị T và anh T1 xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Lương Xuân T2, sinh ngày 11/8/1993 và cháu Lương Xuân T3, sinh ngày 25/4/1995. Hiện nay cả hai cháu đều đã thành niên, lao động tự túc được và đã lập gia đình nên không đặt ra yêu cầu giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị T, anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[3] Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Lương Văn T1.
  2. Về con chung: Chị T và anh T1 xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Lương Xuân T2, sinh ngày 11/8/1993 và cháu Lương Xuân T3, sinh ngày 25/4/1995. Hiện nay cả hai cháu đều đã thành niên, lao động tự túc được và đã lập gia đình nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005627 ngày 30/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Trong thời hạn 15 ngày đương sự có mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Việt Trì;
  • - CCTHADS thành phố Việt Trì;
  • - UBND phường Dữu Lâu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cao Thị Đào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2023/HNGĐ-ST ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 73/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị T xin ly hôn an hT1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger