|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG Số: 73/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29-7-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Ngọc Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tống Văn Tâm
Bà Võ Thị Hồng Tươi
Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thị Phương Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Giáp - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 151/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Lê Thị Thanh L, sinh năm 1993.
Địa chỉ thường trú: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. (Vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
- Bị đơn: ông Ngô Văn T, sinh năm 1989.
Địa chỉ thường trú: tổ F, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn trình bày:
Bà Lê Thị Thanh L và ông Ngô Văn T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 58, ngày 13/7/2017.
Quá trình chung sống, từ khi kết hôn đến năm 2020 thì hai vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, từ năm 2020 đến nay thì giữa hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, tranh cãi. Nguyên nhân do tính cách, quan điểm sống của hai vợ chồng có nhiều khác biệt, không hợp nhau. Ông T không quan tâm đến gia đình, vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên tranh cãi, tình cảm vợ chồng không còn. Từ cuối năm 2023, bà L và ông T đã không còn sống chung, bà L về nhà cha mẹ đẻ tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Ông T thì vẫn ở nhà tại tổ F, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Hai vợ chồng hoàn toàn không còn liên lạc, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm không còn, không thể hàn gắn nên bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông T.
Về con chung: bà L và ông T có 01 con chung là Ngô Tấn Đ, sinh ngày 15/9/2017. Hiện nay, cháu Đ đang sống chung với ông T tại tổ F, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Bà L đồng ý để ông T được trực tiếp nuôi con chung, bà L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Ngô Văn T nhưng ông T không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Thanh L vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Ngô Văn T vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- + Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định tại chương XIV về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại theo các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.
- + Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng: Bà Lê Thị Thanh L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Ngô Văn T. Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn ông T đang cư trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà L vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn ông T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L, ông T.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Ngày 13/7/2017, bà Lê Thị Thanh L và ông Ngô Văn T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Xét thấy, bà L xác định từ năm 2020 đến nay giữa hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, tranh cãi. Nguyên nhân do tính cách, quan điểm sống của hai vợ chồng có nhiều khác biệt, không hợp nhau. Ông T không quan tâm đến gia đình, vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên tranh cãi, tình cảm vợ chồng không còn. Từ cuối năm 2023, bà L và ông T đã không còn sống chung, bà L về nhà cha mẹ đẻ tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Ông T thì vẫn ở nhà tại tổ F, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Hai vợ chồng hoàn toàn không còn liên lạc, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông T nhiều lần để tiến hành hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông T đều vắng mặt, điều này chứng tỏ ông T cũng không có thiện chí mong muốn gia đình được đoàn tụ. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định, hôn nhân giữa bà L và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà L là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về con chung: Quá trình chung sống, bà L và ông T có 01 con chung là Ngô Tấn Đ, sinh ngày 15/9/2017. Hiện nay, cháu Đ đang sống chung với ông T tại tổ F, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Bà L tự nguyện để ông T được trực tiếp nuôi con chung. Do đó, việc để ông T được trực tiếp nuôi con là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên có cơ sở chấp nhận.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên là phù hợp.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bà Lê Thị Thanh L phải nộp số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 58, 59, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Thanh L đối với bị đơn ông Ngô Văn T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh L được ly hôn với ông Ngô Văn T.
- Về con chung: Giao con chung là Ngô Tấn Đ, sinh ngày 15/9/2017 cho ông Ngô Văn T được quyền trực tiếp nuôi.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Vì lợi ích hợp pháp của con chung, khi đương sự có yêu cầu Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Thanh L phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001359 ngày 25/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên.
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Trung |
Bản án số 73/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 73/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà L yêu cầu ly hôn ông T
