Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HS-ST

Ngày 28 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Nhựt.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Dũng và bà Nguyễn Thị Lệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Cảnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Phạm Thanh T, sinh năm 1988 tại T - An Giang. Nơi cư trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H bà Huỳnh Thị L; vợ: Nguyễn Thị Mộng T1, có 02 con: lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2017; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 30/11/2023, bị Công an thị xã T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (đã nộp phạt); Bị bắt tạm giam từ ngày 05/6/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã T (có mặt).

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Bé D, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Hồ Thị B, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Khóm D, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
  2. Ông Ngô Việt M, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. (có mặt)
  3. Bà Nguyễn Thị Mộng T1, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 12/04/2024, Phạm Thanh T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 67H1-909.53 chở Ngô Việt M đi đến thành phố C để mua ma túy sử dụng, trên đường đi đến tiệm T2 của bà Nguyễn Thị Bé D thuộc ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang, M nhìn thấy có nhiều thùng bia để phía trước, không người trông coi nên bàn bạc với T cùng lấy trộm. Khi này, M kêu T quay đầu xe, dừng phía trước tiệm, T ngồi trên xe mô tô đợi. M xuống xe, đi vào lấy trộm 03 thùng bia (gồm: 01 thùng Tiger nâu, 01 thùng Tiger bạc, 01 thùng Heineken) mang ra để lên xe. T điều khiển xe chở M mang 03 thùng bia đến Thành phố C bán cho Hồ Thị B được 860.000đ, M chia cho T 380.000 đồng, còn lại M tiêu xài cá nhân. Bị hại D phát hiện mất trộm tài sản, trình báo Công an. Kết quả điều tra M, T thừa nhận hành vi lấy trộm tài sản của bà D như trên.

Ngày 30/11/2023, Phạm Thanh T đã bị xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng, về hành vi trộm cắp tài sản, đã nộp phạt.

Ngày 04/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T, đã khởi tố, Phạm Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tại Kết luận định giá tài sản số 808/KL-HÐÐG-TTHS ngày 07/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản, trong tố tụng hình sự thị xã T, kết luận:

  • + 01 (một) thùng bia tiger nâu lon nhỏ, dung tích 250ml, NSX 18/2/2024 – HSD 18/02/2025, chưa qua sử dụng, trị giá 270.000 đồng.
  • + 01 (một) thùng bia tiger bạc lon cao, dung tích 330ml, NSX 01/12/2023-HSD 01/12/2024, chưa qua sử dụng, trị giá 390.000 đồng.
  • + 01 (một) thùng bia Heineken lon nhỏ, dung tích 250ml, NSX 20/02/2024 – HSD 20/11/2024, chưa qua sử dụng, trị giá 340.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là: 1.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 (một) thùng bia tiger nâu lon nhỏ, dung tích 250ml, NSX 18/2/2024, HSD 18/02/2025, chưa qua sử dụng, đã trao trả cho bị hại;
  • - 01 (một) thùng bia tiger bạc lon cao, dung tích 330ml, NSX 01/12/2023, HSD 01/12/2024, chưa qua sử dụng, đã trao trả cho bị hại;
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA; số loại AIRBLADE màu đen; số khung: RLHJK1400NZ255555; số máy: JK14E0131342; biển kiểm soát: 67H1-909.53, đã qua sử dụng, đã trao trả cho chủ sở hữu;
  • - 01 (một) thùng bia Heineken lon nhỏ, dung tích 250ml, NSX 20/02/2024, HSD 20/11/2024, chưa qua sử dụng, đã trao trả cho bị hại;
  • - 01 (Một) áo thun màu vàng, cổ tròn, viền xanh (đã qua sử dụng);
  • - 01 (Một) đôi dép hiệu Duwa, màu xanh (đã qua sử dụng);
  • - 01 (Một) quần lửng màu đen có kẻ sọc màu trắng (đã qua sử dụng);
  • - 01 (Một) mũ bảo hiểm màu trắng – đen (đã qua sử dụng);

Về trách nhiệm dân sự: Bà Hồ Thị B không yêu cầu bồi thường.

Tại Cáo trạng số 52/CT-VKSTC ngày 01/8/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu đã truy tố Phạm Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Mục đích lấy trộm tài sản nhằm bán lấy tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân.

Bị hại Nguyễn Thị Bé D có lời khai hoàn toàn phù hợp với lời khai bị cáo, nội dung vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bà D đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường, yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều có lời khai phù hợp với nội dung Cáo trạng, phù hợp với các lời khai khác và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thanh T từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.

- Tại phiên toà, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Phạm Thanh T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 12/04/2024, bị cáo Phạm Thanh T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 67H1-909.53 chở Ngô Việt M trên đường đi đến thành phố C, thấy tiệm tạp hóa của bà Nguyễn Thị Bé D không người trông coi, có để nhiều thùng bia trước của tiệm nên bàn bạc với T cùng lấy trộm. M trực tiếp lén lút lấy trộm 03 thùng bia (gồm: 01 thùng Tiger nâu, 01 thùng Tiger bạc, 01 thùng Heineken) trị giá 1.000.000 đồng, T ngồi trên xe đợi và cảnh giới. Khi lấy được tài sản cả hai mang đi bán cho bà Hồ Thị B được 860.000đ, M chia cho T 380.000 đồng, còn lại M tiêu xài cá nhân. Ngày 30/11/2023, bị cáo Phạm Thanh T đã bị xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng, về hành vi trộm cắp tài sản, đã nộp phạt nhưng chưa hết thời gian được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lại tiếp tục hành vi trộm cắp tài sản.

Hành vi của bị cáo Phạm Thanh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, dù đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại bị hại. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên truy tố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm, khoản, điều luật, đồng thời đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với các vật chứng vụ án đã được trao trả lại cho các bị hại, chủ sở hữu trong giai đoạn điều tra theo đúng quy định nên không xem xét xử lý.

Đối với: 01 (Một) áo thun màu vàng, cổ tròn, viền xanh; 01 (Một) đôi dép hiệu Duwa, màu xanh; 01 (Một) quần lửng màu đen có kẻ sọc màu trắng (đã qua sử dụng); 01 (Một) mũ bảo hiểm màu trắng – đen (đều đã qua sử dụng) là đồ dùng cá nhân bị cáo mặc khi trộm cắp tài sản, bị cáo không nhận lại, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Đối với Ngô Việt M có hành vi lấy trộm tài sản là vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Hồ Thị B có hành vi mua tài sản của bị cáo T và M nhưng bà B không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ. Đồng thời bà B cũng đã tự nguyện trả lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 05/6/2024).

  2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) áo thun màu vàng, cổ tròn, viền xanh; 01 (Một) đôi dép hiệu Duwa, màu xanh; 01 (Một) quần lửng màu đen có kẻ sọc màu trắng (đã qua sử dụng); 01 (Một) mũ bảo hiểm màu trắng – đen (đều đã qua sử dụng)

    (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu)

  3. Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Phạm Thanh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

  4. Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 28/8/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (01);
  • - VKSND tỉnh An Giang (01);
  • - VKSND TX. Tân Châu (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang (01);
  • - Nhà Tạm giữ (01);
  • - Cơ quan CSĐT Công an Tân Châu (01);
  • - Thi hành án DS huyện (01);
  • - Bộ phận THAHS Tòa án (04);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (01);
  • - Bị cáo, bị hại, liên quan (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (01);
  • - Lưu văn phòng (01).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Huỳnh Minh Nhựt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: PHẠM THANH T PHẠM TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger