Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH SƠN

TỈNH NINH THUẬN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 73/2024/HNGĐ-ST.

Ngày 27/9/2024

V/v tranh chấp “Xin ly hôn và nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN – TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Na

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Kim Khánh
  • 2. Ông Lê Văn Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Khánh Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn – tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn – tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tú Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 79/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Xin ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2024//QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 09 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết T, sinh năm 1995 (Xin xét xử vắng mặt);

Trú tại: Thôn H, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đức C, sinh năm 1992 (Vắng mặt);

Trú tại: Thôn L, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ghi ngày 18/3/2024 của nguyên đơn và các lời khai tại Tòa án chị Nguyễn Thị Tuyết T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Đức C tự nguyện về chung sống với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Quá trình chung sống do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, nên mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra và ngày càng trầm trọng. Hiện nay chị và anh C không còn chung sống với nhau, không ai quan tâm đến ai. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh C.

- Về con chung: Có 02 người con là cháu Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 30/7/2014 và cháu Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 20/10/2016. Khi ly hôn chị xin được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng hai cháu N và K, chị không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Đức C đã được triệu tập hợp lệ để lấy ý kiến, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử đều vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án không tiến hành ghi được lời khai của anh C.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm. Đối với bị đơn không chấp hành đúng việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết và tại thời điểm xét xử. Tại phiên tòa nguyên đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị T và anh C là đúng theo quy định của pháp luật.

Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn về việc giải quyết vụ án:

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp ly hôn và nuôi con chung. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết T.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết T được ly hôn với anh Nguyễn Đức C.

- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Tuyết T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng hai cháu là Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 30/7/2014 và cháu Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 20/10/2016.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T và hai cháu đều không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng dân sự: Chị Nguyễn Thị Tuyết T có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận giải quyết việc hôn nhân, nuôi con chung với anh Nguyễn Đức C. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết T xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Đức C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt chị T và anh C.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết T và anh Nguyễn Đức C tự nguyện về chung sống với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Quá trình chung sống do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, nên mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra và ngày càng trầm trọng. Hiện nay chị T và anh C không còn chung sống với nhau, không ai quan tâm đến ai. Nay chị T yêu cầu được ly hôn với anh C.

Qua xác minh tại địa phương cho thấy: mâu thuẫn giữa chị T và anh C đã ở mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần áp dụng các quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 giải quyết cho chị T được ly hôn với anh C là phù hợp.

[2.2] Về con chung: Có 02 người con là cháu Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 30/7/2014 và cháu Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 20/10/2016. Khi ly hôn chị T xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu B và cháu K; quá trình giải quyết cháu B và cháu K đều có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Xét điều kiện thực tế, yêu cầu của chị T và nguyện vọng của cháu B và cháu K là có cơ sở phù hợp với các quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình, nên chấp nhận.

[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T1, cháu B và cháu K đều không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xét đến.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Chị T và anh C được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 227, Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết T được ly hôn với anh Nguyễn Đức C.

- Về con chung: Giao hai cháu Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 30/7/2014 và cháu Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 20/10/2016 cho chị Nguyễn Thị Tuyết T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Đức C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí: Khoản án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Nguyễn Thị Tuyết T phải chịu nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0002038 ngày 08/5/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Chị Nguyễn Thị Tuyết T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Tuyết T và anh Nguyễn Đức C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Sơn;
  • - UBND xã Quảng Sơn;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hồng Na

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 73/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Tuyết Thảo-Nguyễn Đức Cường "Xin ly hôn và tr/c nuôi con chung"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger