Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM KHÊ

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 73/2024/HS-ST

Ngày 27 - 9 - 2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Bộ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Trò.

Ông Nguyễn Việt Tú.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thật - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 76/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ tên: Nguyễn Tiến T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
  2. Sinh ngày 18 tháng 08 năm 1975 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: Khu C, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12.

    Bố đẻ: Nguyễn Xuân T1, đã chết, Mẹ đẻ: Hoàng Thị K, đã chết.

    Vợ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1979,

    Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất 22 tuổi, con nhỏ nhất 12 tuổi.

    Vợ, các con bị cáo hiện ở xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Gia đình bị cáo có 6 anh, chị, em, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình.

    Tiền án: Bị cáo có 04 tiền án.

    + Tại bản án số 41/2019/HSST ngày 01/07/2019 của TAND huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Tiến T 20 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, phạt 60.000.000 đồng sung quỹ nhà nước về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thư chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung, chưa được xóa án tích.

  • + Tại bản án số 43/2019/HSST ngày 05/07/2019 của TAND huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Tiến T 13 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, phạt bổ sung 10.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước. Thư chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung, chưa được xóa án tích.
  • + Tại bản án số 22/2021/HSST ngày 03/03/2021 của TAND huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Tiến T 13 tháng tù về tội “Đánh bạc. Ngày 29/10/2022 T chấp hành xong hình phạt tù, tháng 9 năm 2023 Thư thi hành xong án phí và tiền phạt bổ sung, chưa được xóa án tích.
  • + Tại bản án số 27/2024/HSST ngày 23/05/2024 của TAND huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Tiến T 39 tháng tù về tội “Đánh bạc”, bản án đã có hiệu lực pháp luật. Ngày 23/05/2024, T đã thi hành xong án phí, đến nay chưa chấp hành hình phạt tù, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 23/2011/HSST ngày 27/05/2011 của TAND huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xử phạt 6.500.000 đồng về tội “Đánh bạc”, T đã chấp hành xong tiền phạt và án phí vào tháng 5 năm 2013.

Bị can bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/7/2024, chuyển tạm giam từ ngày 14/7/2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

  1. Họ tên: Lê Thị L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ.
  2. Sinh ngày 22 tháng 7 năm 1965 tại C, Phú Thọ.

    Nơi thường trú: khu T, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Nơi ở hiện tại: khu Bình Minh, xã Tuy Lộc, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10

    Bố đẻ: Lê Văn M, đã chết, Mẹ đẻ: Đặng Thị T2, sinh năm 1938 hiện ở xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Chồng: Đặng Thái H, đã chết.

    Bị cáo có 02 người con, con lớn nhất 37 tuổi, con nhỏ nhất 19 tuổi hiện đều ở thành phố Hà Nội.

    Gia đình bị cáo có 6 anh, em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình.

    Tiền án: không.

    Tiền sự: không.

    Nhân thân:

    • + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02 ngày 29/03/2005 bị Công an huyện H, tỉnh Phú Thọ xử phạt Lê Thị L 1.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Ngày 29/4/2005 L đã nộp tiền phạt hành chính.
    • + Tại bản án số 116/2005/HSST ngày 24/11/2005 của TAND tỉnh Phú Thọ xử phạt Lê Thị L 9 tháng tù, phạt 5.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước về tội Mua bán trái phép chất ma túy. L đã chấp hành xong án phạt tù ngày 20/9/2010. Về phần án phí và tiền phạt bổ sung, hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện

Cẩm Khê không lưu trữ sổ nhận ủy thác trước năm 2010, kiểm tra trên sổ thụ lý không còn đôn đốc thi hành án với Lê Thị L. L khai nhận đã nộp án phí và tiền phạt bổ sung theo bản án nhưng do thời gian đã lâu nên thất lạc các biên lai nộp phạt.

  • + Tại bản án phúc thẩm số 436/2013/HSPT ngày 17/07/2013 của TAND Tối cao tại Hà Nội xử phạt Lê Thị L 5 tháng tù về tội “Đánh bạc”, phạt bổ sung xung công quỹ nhà nước 5.000.000 đồng. L đã chấp hành xong án phạt tù ngày 27/01/2014, chấp hành xong án phí và tiền phạt sung quỹ nhà nước ngày 07/3/2016.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/7/2024 đến ngày 14/7/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.(Có mặt).

  1. Họ tên: Nguyễn Xuân H1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
  2. Sinh ngày 10 tháng 06 năm 1974 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: Ngọn Đ, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 1/12

    Bố đẻ: Nguyễn Văn C, đã chết, Mẹ đẻ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1931 hiện ở xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Vợ: Trần Thị T3, đã chết.

    Bị cáo có 02 người con, con lớn nhất 30 tuổi, con nhỏ nhất 29 tuổi, hiện đều ở xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Gia đình bị cáo có 7 anh, chị, em, bị cáo là con thứ 5 trong gia đình.

    Tiền án: không.

    Tiền sự: không.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/7/2024 đến ngày 14/7/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.(Có mặt).

  1. Họ tên: Nguyễn Thị H2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ.
  2. Sinh ngày 18 tháng 02 năm 1976 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: khu N, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12

    Bố đẻ: Nguyễn Văn T4, sinh năm 1945, Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H3, sinh năm 1950.

    Chồng: Đinh Mạnh H4, sinh năm 1976.

    Bị cáo có 03 người con lớn nhất 27 tuổi, nhỏ nhất 21 tuổi.

    Cha, mẹ, chồng, các con bị cáo hiện đều ở xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Gia đình bị cáo có 6 anh, chị, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

    Tiền án: không

    Tiền sự: không

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/7/2024 đến ngày 14/7/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.(Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 11/7/2024, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Xuân H1, Nguyễn Tiến T đến nhà nghỉ T7 thuộc khu B, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ do Lê Thị L làm chủ. Tại đây, H2, Hồng T5, L ngồi nói chuyện với nhau ở tầng 1. Sau đó, đến khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày các đối tượng cùng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa sát được thua bằng tiền, tất cả đều đồng ý và lên phòng nghỉ số 103 (tầng 2) của nhà nghỉ để đánh bạc. Các đối tượng thống nhất đánh mỗi ván thấp nhất là 100.000 đồng, ai đánh cao hơn thì tùy. Các đối tượng không thống nhất gì về việc nộp, thu tiền hồ (tiền thuê địa điểm đánh bạc). L là người lấy 01 bộ bát đĩa sứ có sẵn tại nhà nghỉ đem lên phòng cho mọi người sử dụng để đánh bạc. Thư lấy 01 chiếc kéo có sẵn tại nhà nghỉ và cắt 04 quân bài hình tròn từ quân bài tú lơ khơ. Sau đó, L, H2, H1, T5 đi vào trong phòng nghỉ số 103 ở tầng 2 của nhà nghỉ và ngồi trên giường có trải ga màu trắng để đánh bạc. Các đối tượng ngồi đánh bạc theo hình vòng tròn trên giường (trải ga màu trắng) tại phòng nghỉ 103: Thư ngồi xóc cái hướng nhìn ra cửa phòng nghỉ, ngồi đối diện T5 và quay lưng vào cửa phòng nghỉ là L, ngồi bên trái T5H2, ngồi bên phải T5H1.

Hình thức đánh bạc của các đối tượng trên là đánh xóc đĩa được thua bằng tiền. Cụ thể: “Người cầm cái cho 04 quân bài hình tròn vào trong 01 đĩa sứ và úp bát sứ lên rồi xóc, sau đó người chơi đặt cửa chẵn, cửa lẻ, mỗi ván thấp nhất là 100.000 đồng, người nào đặt cửa cao hơn thì tùy nhưng phải báo trước. Sau đó người cầm cái mở bát để xem kết quả. Nếu kết quả là 2 hoặc 4 quân bài cùng màu thì người đặt cửa chẵn thắng, nếu kết quả là 3 quân bài cùng màu, quân còn lại khác màu thì người đặt cửa lẻ thắng. Người thắng sẽ được người cầm cái trả cho số tiền bằng số tiền đã đặt cửa, người thua sẽ mất số tiền đã đặt cửa cho người cầm cái”.

Các đối tượng đánh bạc liên tục từ 15 giờ 50 phút ngày 11/07/2024 đến 16 giờ 00 cùng ngày thì bị Công an huyện C kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên. Khi Công an bắt quả tang, do hoảng loạn nên H1 đã cầm bát đĩa sứ và quân bài đang sử dụng để đánh bạc, ném vào nhà vệ sinh của phòng nghỉ khiến chiếc bát bị vỡ thành nhiều mảnh, đĩa không bị vỡ.

Quá trình đánh bạc Lê Thị L có 1.800.000 đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng) và sử dụng hết số tiền này vào mục đích đánh bạc; Nguyễn Thị H2 mang theo số tiền 3.900.000 đ (Ba triệu chín trăm nghìn đồng) và sử dụng hết số tiền này vào mục đích đánh bạc; Nguyễn Tiến T mang theo số tiền 1.000.000 đ (Một triệu đồng) và sử dụng hết số tiền này vào mục đích đánh bạc; Nguyễn Xuân H1 mang theo số tiền 2.000.000 đ (Hai triệu đồng) và sử dụng hết số tiền này vào mục đích đánh bạc. Tổng số tiền các bị can sử dụng vào mục đích đánh bạc là 8.700.000 đồng (Tám triệu bảy trăm nghìn đồng).

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Thị H2, Nguyễn Tiến T, Lê Thị L, Nguyễn Xuân H1 đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị can phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 61/CT-VKSCK ngày 10/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Tiến T về tội “Đánh bạc” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự. Truy tố các bị cáo Lê Thị L, Nguyễn Xuân H1, Nguyễn Thị H2 về tội: “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị:

*Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tiến T.

*Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 2, 4 Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Thị L.

*Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 1, 2, 4 Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Xuân H1.

*Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 2, 4 Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị H2.

*Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tiến T, Lê Thị L, Nguyễn Xuân H1, Nguyễn Thị H2 phạm tội “Đánh bạc”.

* Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T từ 39 (Ba mươi chín) tháng tù đến 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 39 (Ba mươi chín) tháng tù của Bản án số 27/2024/HSST ngày 23/05/2024 của TAND huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ về tội “Đánh bạc”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án từ 78 (bẩy mươi tám) tháng tù đến 81 (T6 mươi mốt) tháng tù. (Được trừ 03 ngày tạm giữ từ ngày 25/3/2024 đến ngày 28/3/2024 của Bản án số 27/2024/HSST ngày 23/05/2024). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 11/7/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Tiến T.

- Xử phạt bị cáo Lê Thị Liên từ A (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ đến 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ 03 ngày tạm giữ (từ ngày 11/7/2024 đến ngày 14/7/2024) quy đổi bằng 09 (Chín) ngày cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Lê Thị L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh

Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Lê Thị L tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H1 từ 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ đến 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ 03 ngày tạm giữ (từ ngày 11/7/2024 đến ngày 14/7/2024) quy đổi bằng 09 (Chín) ngày cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Nguyễn Xuân H1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Xuân H1 tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H2 từ 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ đến 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ 03 ngày tạm giữ (từ ngày 11/7/2024 đến ngày 14/7/2024) quy đổi bằng 09 (Chín) ngày cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Nguyễn Thị H2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Thị H2 tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Lê Thị L, Nguyễn Xuân H1, Nguyễn Thị H2.

Buộc các bị cáo Lê Thị L, Nguyễn Xuân H1, Nguyễn Thị H2 phải lao động phục vụ cộng đồng, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 8.700.000đ (Tám triệu bẩy trăm nghìn đồng) Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã gửi vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê (có giấy nộp kèm theo) là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) ga trải giường màu trắng, 01 (một) chiếc kéo bằng kim loại, 01 (một) quân bài tú lơ khơ đã bị cắt dở (bị cắt một phần); 01 (một) chiếc đĩa sứ, 04 (bốn) quân bài hình tròn và nhiều mảnh bát sứ vỡ là các công cụ, phương tiện phạm tội.

(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/9/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê).

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Tiến T, Lê Thị L, Nguyễn Xuân H1, Nguyễn Thị H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

*Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • -VKSND huyện Cẩm Khê;
  • -VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • -UBND xã nơi B/c cư trú;
  • -CQCSĐT CA huyện Cẩm Khê;
  • -THADS huyện Cẩm khê;
  • - THA Hình sự;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • -Lưu hồ sơ+VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Bộ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger