Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH CỬU

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 73/2024/HS-ST

Ngày 27 - 5 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kim Đính

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Anh, ông Đặng Văn Nga.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Vạn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Tuất là Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai; xét xử sơ thẩm công khai (trực tuyến) vụ án hình sự thụ lý số 56/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Đoàn Đức B, sinh năm 2001 tại tỉnh Đồng Nai;

Nơi cư trú: tổ A, khu phố F, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa - học vấn: 7/12; con ông Đoàn Minh N, sinh năm 1973 (đã chết) và con bà Trịnh Thị H, sinh năm 1981 (đã chết); vợ, con, tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 202/2023/HS-ST ngày 07/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xử phạt 08 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”; bị tạm giữ ngày 24/12/2023, tạm giam ngày 02/01/2024, đang chấp hành án hình phạt tù tại Công an tỉnh Đ;

(Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần là phòng xét xử trực tuyến đặt tại Nhà tạm giữ Công an huyện V; có sự tham gia giám sát, bảo vệ của Công an huyện V: Ông Nguyễn Xuân B1, Nguyễn Hữu C, Chế Trung K).

* Người làm chứng:

Phan Thị Mỹ D, sinh năm 2002; nơi cư trú: ấp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Đoàn Đức B thường sử dụng trái phép chất ma túy, biết đối tượng L (không rõ họ tên, địa chỉ) bán ma túy. Khoảng 12 giờ ngày 24/12/2023, bị cáo điều khiển xe mô tô hiệu Vision (chưa có biển số) đi từ nhà thuộc khu phố F, thị trấn V đến khu vực ấp C, xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai gặp L mua 02 bịch ma túy đá 500.000 đồng. Bị cáo nhận ma túy điều khiển xe mô tô về nhà, đến đoạn đường gần Trường tiểu học V thuộc ấp D, xã V, huyện V thì gặp Công an xã V đang tuần tra nên bị cáo ném bịch ma túy xuống đường thì Công an xã V phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển Công an huyện V giải quyết theo quy định pháp luật.

Vật chứng tạm giữ: 01 bịch nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng (đã niêm phong); 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng; 01 xe mô tô hiệu Vision (chưa có biển số).

Tại Kết luận giám định số 2865/KL-KTHS ngày 30/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,6937 gam loại Methamphetamine. H1 lại mẫu vật sau giám định trong niêm phong số 2865/KL-KTHS.

Kết quả xác minh nguồn gốc xe mô tô hiệu Vision (chưa có biển số), có số khung RLHJF5831LZ490477, số máy JF86E5213538: Xác định xe của Nguyễn Chí T - sinh năm 1985, cư trú ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau là chủ sở hữu. Ngày 21/12/2023, Phan Thị Mỹ D (bạn của bị cáo) mua lại xe trên tại Cửa hàng mua bán xe cũ, địa chỉ E T, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai của Nguyễn Văn T1 và đang làm thủ tục cấp biển số mới. Ngày 24/12/2023, D cho bị cáo mượn xe nhưng không biết bị cáo đi mua ma túy.

Xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại xe mô tô hiệu Vision (chưa có biển số) của Phan Thị Mỹ D.

Cáo trạng số 65/CT-VKSVC ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội như sau:

Lời khai của bị cáo phù hợp tài liệu vụ án, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo đúng quy định pháp luật. Hành vi của bị cáo nguy hiểm trong xã hội nên áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo.

Xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo 16 tháng đến 20 tháng tù. Bị cáo đang phải chấp hành hình phạt tù theo Bản án số 202/2023/HSST ngày 07/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, cần tổng hợp hình phạt các Bản án theo Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đối với người tên L (không xác định được họ tên, địa chỉ) nên chưa có cơ sở xử lý. Yêu cầu Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện V xác minh, xử lý theo quy định.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong niêm phong số 2865/KL-KTHS ngày 30/12/2023 của Công an tỉnh Đ.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng.

* Bị cáo trình bày ý kiến: Bị cáo có mua ma túy để sử dụng, nội dung Cáo trạng đúng sự thật, bị cáo nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án là đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hoạt động tiến hành tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện V, tỉnh Đồng Nai và Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đến nay, người tham gia tố tụng trong vụ án không có khiếu nại. Hoạt động tiến hành tố tụng của Công an huyện V và Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp pháp luật.

Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án, có thể công bố lời khai của họ để tranh tụng nên không ảnh hưởng hoạt động xét xử. Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của Kiểm sát viên, xét xử vụ án vắng người làm chứng là phù hợp Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Về trách nhiệm hình sự:

Bị cáo đồng ý về hành vi thực hiện tội phạm theo nội dung Cáo trạng là đúng sự thật, ý kiến trình bày của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra và chứng cứ khác, như vật chứng, Kết luận giám định là các chứng cứ chứng minh: Bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo đúng quy định của pháp luật.

* Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình để nhận biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, góp phần gây tác hại đối với sức khỏe con người, làm phát sinh một số tội phạm khác, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương.

Hành vi của bị cáo nguy hiểm trong xã hội nên cần phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo đang phải chấp hành hình phạt tù theo Bản án số 202/2023/HSST ngày 07/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai, Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt các Bản án theo Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với ý kiến của bị cáo khai có mua ma túy của người tên L thì Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện V đang xác minh để xử lý theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chỉ xét xử đối với bị cáo đã có quyết định truy tố của Viện kiểm sát là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3]. Vật chứng vụ án:

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong niêm phong số 2865/KL-KTHS ngày 30/12/2023 của Công an tỉnh Đ.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng.

[4]. Về chi phí tố tụng:

Bị cáo là người bị kết án phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.

[5] Luận tội của Kiểm sát viên phù hợp chứng cứ vụ án, quy định pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 293, khoản 1 Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Đức B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

Đoàn Đức B 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 12 năm 2023.

Tổng hợp hình phạt của Bản án số 202/2023/HSST ngày 07/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai kết án đối với bị cáo: 08 (tám) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 05 (năm) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 12 năm 2023.

- Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong niêm phong số 2865/KL-KTHS ngày 30/12/2023 của Công an tỉnh Đ.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng.

(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).

- Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về trách nhiệm thi hành án dân sự:

Bản án được thi hành theo quy định tại các Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

- Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an huyện Vĩnh Cửu (2);
  • - VKSND huyện Vĩnh Cửu;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo {để thay thông báo kết quả xét xử};
  • - Chicục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu;
  • - Lưu: Vụ án, lưu trữ cơ quan, THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Kim Đính

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bảo-Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger