TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 73/2024/HSST Ngày 26/9/2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủphiên toà: Ông Phan Quang S
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Tường và Ông Đặng Thế Quế
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Anh Quân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: ông Vi Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở TAND huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An và tại trại tạm giam Công an tỉnh N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2024/TLST - HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QÐST–HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vi Văn H, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 24/6/1985 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản Điểm, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vi Văn Đ sinh năm 1961 và bà: Lo Thị T, sinh năm 1964; Vợ: Vi Thị C, sinh năm 1996 và có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhàgiữ Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An từ ngày 03/6/2024 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vi Đức T1 sinh năm 2001 trú tại bản Xàn, xã C, Q và Sầm Văn G sinh năm 1993 trú tại bản Nhang Thắm, xã C, Q đều là người nghiện ma tuý. Vào khoảng 14 giờ 45 phút, ngày 28/5/2024, T1 đi từ nhà mình đến ngã ba xóm Đ, xã C thì gặp G. T1 và G rủ nhau đi mua ma tuý cùng sử dụng. T1 lấy điện thoại gọi vào số điện thoại của Vi Văn H hỏi mua ma tuý với số tiền 300.000đ nhưng H nói chỉ còn gói 500.000đ. Khoảng 20 phút sau, T1 gọi cho H nói H bán cho T1 01 gói ma tuý với giá 500.000₫ thì H đồng ý và hẹn T1 ở nghĩa trang B, xã C để giao ma tuý. T1 góp 200.000đ, G góp 300.000đ, G dùng xe máy chở T1 đến điểm hẹn. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, T1 và G đến gặp H, H đưa cho 01 gói ma tuý cho T1 còn T1 đưa tiền cho H. Sau khi mua được ma tuý, G và T1 đi về nhà, trên đường về cả hai chia số ma tuý vừa mua được thành 02 phần, G đi về nhà G còn T1 đi vào khu vực đồi keo thuộc xóm T, xã C sử dụng ma tuý. Khi T1 vừa sử dụng xong ma tuý thì bị Đội Cảnh sát Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An kiểm tra phát hiện thu giữ của Vi Đức T1 01 bơm kim tiêm có bám dính dung dịch màu trắng, 01 mảnh giấy nhiều màu sắc có in chữ. Từ lời khai của T1, cơ quan Điều tra đã triệu tập Sầm Văn G và xét nghiệm nhanh chất ma tuý đối với 02 đối tượng này thì hai đối tượng trên đầu dương tính với ma tuý. Ngày 03/6/2024, cơ quan CSĐT tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vi Văn H, thu giữ một lọ nhựa màu trắng bên trong chứa 13 gói nhỏ, bên trong mỗi gói nhỏ chứa chất bột màu trắng được bọc trong giấy, một mảnh giấy hình chữ nhật có nhiều màu sắc, thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo có gắn 01 thẻ sim, điện thoại đã qua sử dụng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại. Đối với vật chứng thu giữ của Vi Văn H: số chất bột màu trắng thu giữ của vi Văn Hà có khối lượng 1,1gam, lấy 0,2 gam đi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 615/KL-KTHS ngày 08/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:“Dung dịch màu trắng bám dính trong bơm kim tiêm thu giữ của Vi Đức T1 gửi tới giám định là dung dịch ma tuý, loại heroin.
Tại bản Kết luận giám định số 616/KL-KTHS ngày 08/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “ Mẫu chất bột nén màu trắng thu giữ của Vi Văn H gửi tới giám định là ma túy; loại ma túy Heroine có khối lượng 1,1 gam.
Bản cáosố 69/CT-VKS-QH ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp truy tố bị cáo Vi Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điềuBộ luật hình,
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điềuđiểm s khoản 1, 2 Điều 51, điều 38 Bộ luật hìnhXử phạt bị cáo Vi Văn H từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tốhình sự:
- + 01 bơm kim tiêm có bám dính dung dịch ma tuý hêroin, 01 mảnh giấy nhiều màu sắc có in chữ thu giữ của Vi Đức T1.
- + 01 lọ nhựa màu trắng bên trong chứa 13 gói ma tuý hêroin có khối lượng 1,1gam; 01 mảnh giấy nhiều màu sắc có in chữ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vi Vo, mặt trước màu đen, mặt sau màu xanh ngọc bích, điện thoại đã qua sử dụng; Đối với số ma tuý còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
- + 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu ViVo, mặt trước màu đen, mặt sau màu xanh ngọc bích đã qua sử dụng, thu giữ của Vi Văn H đề nghị tịch thu bán sung quỹ Nhà nước.
Truy thu số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) của Vi Văn H là tiền do phạm tội mà có sung nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo Vi Văn H phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Bị cáo Vi Văn H nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết việc làm của mình là sai trái mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơquan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tốhình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơtiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa bị cáo Vi Văn H hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Bị cáo Vi Văn H khai nhận:
Khoảng 15 giờ 30 ngày 28/5/2024, tại nghĩa trang B, xã C, huyện Q, Vi Văn H đã bán cho Vi Đức T1 và Sầm Văn G một gói ma tuý hêroin với giá 500.000đ. Ngày 03/6/2024, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp tại nhà của Vi Văn H thu giữ 13 gói ma tuý hêroin có khối lượng 1,1gam. Vi Văn H khai mục đích tàng trữ hêroin là để sử dụng và bán kiếm lời.
Tại bản Kết luận giám định số 615/KL-KTHS ngày 08/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:“Dung dịch màu trắng bám dính trong bơm kim tiêm thu giữ của Vi Đức T1 gửi tới giám định là dung dịch ma tuý, loại heroin.
Tại bản Kết luận giám định số 616/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 08/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “ Mẫu chất bột nén màu trắng thu giữ của Vi Văn H gửi tới giám định là ma túy; loại ma túy Heroine có khối lượng 1,1 gam. Hành vi mua và sau đó bán ma tuý của Vi Văn H cho Vi Đức T1 và Sầm Văn G đã cấu thành tội mua bán trái phép chất ma tuý. Do đó, bị cáo Vi Văn H bị xét xử và phải chịu hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo Vi Văn H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bố bị cáo được Nhà nước tặng thưởng kỷ niệm chương vì làm nhiệm vụ quốc tế. Do đó cần áp dụng để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Vi Văn H, do không xác định được địa chỉ, lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xử lý. Đối với hành vi sử dụng ma tuý của Vi Đức T1 và Sầm Văn G đã bị xử phạt vi phạm hành chính.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo đang bị tạm giam, trước khi phạm tội bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, nghiện chất ma tuý. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Vật chứng vụ án: + 01 bơm kim tiêm có bám dính dung dịch ma tuý hêroin, 001 mảnh giấy nhiều màu sắc có in chữ thu giữ của Vi Đức T1.
+ 01 lọ nhựa màu trắng bên trong chứa 13 gói ma tuý hêroin có khối lượng 1,1gam; 01 mảnh giấy nhiều màu sắc có in chữ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vi Vo, mặt trước màu đen, mặt sau màu xanh ngọc bích, điện thoại đã qua sử dụng; Đối với số ma tuý còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
+ 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu ViVo, mặt trước màu đen, mặt sau màu xanh ngọc bích đã qua sử dụng, thu giữ của Vi Văn H đây là chiếc điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc với Vi Đức T1 để bán ma tuý vì vậy cần tịch thu bán hoá giá sung quỹ Nhà nước.
Truy thu số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) của Vi Văn H là tiền do phạm tội mà có sung nộp ngân sách Nhà nước.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điều 38 BLHS.
Xử phạt: Bị cáo Vi Văn H 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03 tháng 6 năm 2024.
Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 2 điểm và a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tốtụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy gồm: + 01 bơm kim tiêm có bám dính dung dịch ma tuý hêroin, 001 mảnh giấy nhiều màu sắc có in chữ thu giữ của Vi Đức T1.
+ 01 lọ nhựa màu trắng bên trong chứa 13 gói ma tuý hêroin có khối lượng 0,9gam; 01 mảnh giấy nhiều màu sắc có in chữ.
+ Tịch thu 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Vivo mặt trước màu đen, mặt sau màu xanh ngọc bích, có sim số 0393.840.929 đã qua sử dụng để bán hoá giá sung quỹ Nhà nước.
Truy thu tại Vi Văn H số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng. Đặc điểm chi tiết vật chứng (ma tuý, điện thoại) được phản ánh tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 04/9/2024 giữa Công an huyện Q và C1 cục Thi hành án Dân sự huyện Q.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tốtụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thườngQuốc hội khóa 14. Bị cáo Vi Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Quang Sơn |
5
6
Bản án số 73/2024/HSST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 73/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử trực tuyến
