Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK MIL

TỈNH ĐẮK NÔNG

Bản án số:73/2024/HS-ST

Ngày: 26/9/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Chấn, ông Nguyễn Sỹ Thông

- Thư ký phiên toà: Ông Lý Khởi Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Niê Đoan Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Anh H, sinh năm 1982; tại tỉnh Đồng Nai; nơi ĐKHKTT và trú tại: Tổ D, khu phố A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960; vợ là Nguyễn Thị Mỹ V, sinh năm 1982; có 2 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2008; địa chỉ: Tổ D, khu phố A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cứ trú, tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 18/6/2024 ; (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1991
  2. Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước (vắng mặt)

  3. Công ty TNHH MTV V1 và DL Nguyễn Anh H
  4. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Mỹ V – Chức vụ: Giám đốc

    Địa chỉ: G tổ D, Khu phố A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt)

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Anh H là quản lý Công ty TNHH MTV V1 và DL Nguyễn Anh H có địa chỉ tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Tháng 12/2019, Nguyễn Anh H mua lại xe ô tô nhãn hiệu Thaco Foton, màu sơn trắng, biển số 60C - 222.24 để phục vụ công việc vận tải của Công ty. Do nhu cầu cần chở thêm hàng hoá nên H tự sửa chữa, cơi nới kích thước lòng thùng xe từ 9500mm x 2380mm x 2150mm thành 9500mm x 2380mm x 2500mm, tăng thêm kích thước chiều cao là 350mm. Ngày 12/01/2023, H sửa chữa kích thước lòng thùng xe ô tô biển số 60C - 222.24 trở lại kích thước cho phép theo quy định và đi kiểm định an toàn kỹ thuật tại Trung tâm Đ chi nhánh Công ty TNHH A tại huyện L, tỉnh Đồng Nai. Sau khi được cấp giấy chứng nhận kiểm định số EA1552546 cấp ngày 12/01/2023, Nguyễn Anh H đã cơi nới kích thước lòng thùng xe từ 9500mm x 2380mm x 2150mm thành 9500mm x 2380mm x 2500mm, tăng thêm kích thước chiều cao là 350mm để tăng khả năng chứa hàng hoá. Đến khoảng tháng 5/2023, do sợ trong quá trình lưu thông bị lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện, H nảy sinh ý định làm giấy chứng nhận kiểm định giả phù hợp với kích thước thùng xe đã cơi nới, nên sử dụng mạng xã hội Zalo liên hệ với đối tượng có tài khoản mạng xã hội Zalo “làm sổ đăng kiểm (hồng phúc)” đặt làm giấy chứng nhận kiểm định giả thì đối tượng này đồng ý làm với giá 800.000 đồng, H cung cấp thông tin, đặc điểm giấy chứng nhận kiểm định thật cho đối tượng làm giả và yêu cầu làm giả giấy chứng nhận kiểm định thay đổi kích thước lòng thùng xe là 9500mm x 2380mm x 2500mm. Đến ngày 06/02/2023, đối tượng “làm sổ đăng kiểm (hồng phúc)” chuyển phát nhanh giấy chứng nhận kiểm định giả cho H, H nhận và thanh toán tiền cho người chuyển phát nhanh (chưa xác định được nhân thân, lai lịch). Sau khi nhận giấy chứng nhận kiểm định giả, H để cùng với giấy đăng ký xe, bảo hiểm xe ô tô biển số 60C - 222.24 trong hộp để giấy tờ phía trên trần vị trí ghế tài của xe ô tô biển số 60C - 222.24, còn giấy chứng nhận kiểm định thật H để ở hộp đựng giấy tờ khác ở trên xe ô tô biển số 60C - 222.24.

Ngày 13/6/2023, H thuê Phạm Văn T2 làm tài xế xe ô tô biển số 60C - 222.24 chở hàng từ huyện N, tp . đến tỉnh Đắk Lắk để giao hàng. Đến khoảng 05 giờ ngày 14/6/2024, khi đến thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông thuộc Tổ công tác Đội 3 - Phòng CSGT Công an tỉnh Đ yêu cầu dừng xe và xuất trình giấy tờ, tài xế Phạm Văn T2 lấy giấy tờ xe từ trên vị trí ghế tài gồm giấy đăng ký xe ô tô (thật), giấy chứng nhận kiểm định xe xe ô tô biển số 60C - 222.24 (giả) xuất trình cho Cảnh sát giao thông thì bị lực lượng CSGT phát hiện, giấy chứng nhận kiểm định là giả, lúc này Phạm Văn T2 đã điện thoại thông báo cho H biết thì được H chỉ nơi để giấy kiểm định thật để xuất trình cho lực lượng Cảnh sát giao thông. Lực lượng Cảnh sát giao thông thuộc Tổ công tác Đội 3 - Phòng CSGT Công an tỉnh Đ đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với Phạm Văn T2 và tạm giữ giấy đăng ký xe ô tô (thật), giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 60C - 222.24 (giả) cùng xe ô tô biển số 60C - 222.24.

2

Ngày 10/7/2023, Phòng CSGT Công an tỉnh Đ chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ để điều tra theo quy định. Ngày 18/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ để giải quyết theo quy định của pháp luật. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Anh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Tại Bản kết luận giám định số 356/KL-KTHS, ngày 27/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

  1. Giấy chứng nhận kiểm định gửi đến giám định (ký hiệu A1) là giả.
  2. Giấy chứng nhận kiểm định gửi đến giám định (ký hiệu A2) là thật.
  3. Chứng nhận đăng ký xe ô tô gửi đến giám định (ký hiệu A3) có phôi là thật (không có chữ ký, hình dấu so sánh).
  4. Giấy phép lái xe gửi đến giám định (ký hiệu A4) là thật. (BL 29)

* Tại Bản kết luận giám định số 330/KL-KTHS, ngày 17/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

  1. Tem an toàn kỹ thuật gửi tới giám định (ký hiệu A1) có phôi là thật (không có hình dấu mẫu so sánh).
  2. Tem nộp phí sử dụng đường bộ gửi tới giám định (ký hiệu A2) có phôi là thật (không có hình dấu mẫu so sánh).

Tại Bản cáosố 75/CT - VKS ngày 13 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Nguyễn Anh H về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Anh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 BLHS.

Đề nghị Áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt Nguyễn Anh H từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng tínhtừ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

  • Chấp nhận việc Phòng C Công an tỉnh Đ đã trả lại 01 giấy chứng nhận kiểm định (thật) màu cam, số EA 1552546; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 60C - 222.24 (thật) cho Nguyễn Anh H; 01 giấy phép lái xe hạng C, mang tên Phạm Văn T2 cho Phạm Văn T2 là các chủ sở hữu hợp pháp.

3

  • Đối với 01 Giấy chứng nhận kiểm định (giả) màu cam, số EA 1552546 là tài liệu liên quan nên chuyển theo hồ sơ vụ án.
  • Đối với Tem nộp phí sử dụng đường bộ số IA 4970851; tem chứng nhận bảo vệ môi trường số EA 1552546 (thật), do đã hết thời hạn sử dụng là tài liệu liên quan nên chuyển theo hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Anh H đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc theo bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng tháng 5/2023, Nguyễn Anh H thuê đối tượng có tài khoản mạng xã hội Zalo “làmđăng kiểm Hồng Phúc” làm giả Giấy chứng nhận kiểm định số EA1552546 do Trung tâm Đ Chi nhánh Công ty TNHH A tại huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 12/01/2023 cho xe ô tô nhãn hiệu Thaco Foton, màu sơn trắng, biển số 60C - 222.24 (nhưng H không sử dụng). Ngày 13/6/2023, Nguyễn Anh H thuê tài xế Phạm Văn T2 điều khiển xe ô tô biển số 60C - 222.24 chở hàng từ huyện N, tp . đến tỉnh Đắk Lắk thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông thuộc Tổ công tác Đội 3 - Phòng CSGT Công an tỉnh Đ kiểm tra, phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường không do cơ quan có thẩm quyền cấp đồng thời tạm giữ giấy chứng nhận đăng kiểm giả số EA1552546 do Trung tâm Đ Chi nhánh Công ty TNHH A tại huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 12/01/2023 cùng xe ô tô biển số 60C - 222.24 và chuyển giao Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ. Sau đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo Điều 341 BLHS.

Xét quan điểm buộc tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

4

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Anh H phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Điều 341 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

[5]. Xét thấy tính chất vụ án do bị cáo gây ra là ít nghiêm trong, tuy nhiên hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, sự hoạt động đúng đắn, bình thường và uy tín của cơ quan Nhà nước trong quản lý hành chính. Bị cáo đã hành vi cung cấp thông tin, hình ảnh của xe ô tô nhãn hiệu Thaco Foton, màu sơn trắng, biển số 60C - 222.24 cho đối tượng không rõ nhân thân lai lịch để làm giả sổ đăng kiểm của cơ quan có thẩm quyền. Điều đó thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân đối với hoạt động quản lý Nhà nước. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có bà ngoại được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất trong cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[8] Cân nhắc tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng; có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng; ngoài lần phạm tội này các bị cáo đều chấp hành các chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú; bị cáo đã nhận thức được sai lầm của mình và có khả năng cải tạo ngoài xã hội. Bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết 02/VBHN-TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Do đó, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng chế định án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương, gia đình cũng đảm bảo được khả năng tự cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, biết chấp hành pháp luật; đồng thời thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

[9]. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

10]. Về xử lý vật chứng:

5

Việc Phòng C Công an tỉnh Đ đã trả lại 01 giấy chứng nhận kiểm định (thật) màu cam, số EA 1552546; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 60C - 222.24 (thật), cho Nguyễn Anh H; 01 giấy phép lái xe hạng C, mang tên Phạm Văn T2 cho Phạm Văn T2 là các chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp nên chấp nhận.

  • Đối với 01 Giấy chứng nhận kiểm định (giả) màu cam, số EA 1552546 là tài liệu liên quan nên chuyển theo hồ sơ vụ án là phù hợp
  • Đối với Tem nộp phí sử dụng đường bộ số IA 4970851; tem chứng nhận bảo vệ môi trường số EA 1552546 (thật), do đã hết thời hạn sử dụng là tài liệu liên quan nên chuyển theo hồ sơ vụ án.

[11]. Vấn đề khác: Đối với đối tượng có tên tài khoản mạng xã hội Zalo “Làm sổ đăng kiểm (hồng P)” và nhân viên giao hàng của Công ty C1 (chưa xác minh được nhân thân, lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với điện thoại di động mà bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, do không thu giữ được nên không đặt ra vấn đề xử lý.

Đối với Phạm Văn T2 do không biết bị cáo Nguyễn Anh H làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[12]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh H phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức".
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt Nguyễn Anh H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Nguyễn Anh H cho UBND xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương nơi "chị"bị cáo cư trú trong việc giám sát và giáo dục các bị cáo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  3. Việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Chấp nhận việc Phòng C Công an tỉnh Đ đã trả lại 01 giấy chứng nhận kiểm định (thật) màu cam, số EA 1552546; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 60C - 222.24 (thật), cho Nguyễn Anh H; 01 giấy phép lái xe hạng C, mang tên Phạm Văn T2 cho Phạm Văn T2 là các chủ sở hữu hợp pháp.
    • Đối với 01 Giấy chứng nhận kiểm định (giả) màu cam, số EA 1552546 là tài liệu liên quan nên chuyển theo hồ sơ vụ án.
    • Đối với Tem nộp phí sử dụng đường bộ số IA 4970851; tem chứng nhận bảo vệ môi trường số EA 1552546 (thật), do đã hết thời hạn sử dụng là tài liệu liên quan nên chuyển theo hồ sơ vụ án.
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Anh H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án phần có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

6

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Đắk Nông;
  • -Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • -VKS ND huyện ĐắkMil;
  • -Đội điều tra Công an huyện Đắk Mil;
  • -Đội THAHS Công an huyện Đắk Mil;
  • -Bộ phận Nghiệp vụ CA huyện Đắk Mil;
  • -Chi cục THADS huyện Đắk Mil;
  • -Bị cáo;
  • -Những người tham gia tố tụng;
  • -Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thị Thùy Dung

7

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG về làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh Huy phạm tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger