Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN TRỤ

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/DS-ST

Ngày: 24-9-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm văn Thái.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Xuân.
  2. Bà Nguyễn Thị Bích Tuyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thủy - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ tham gia phiên tòa: Bà Trần Tường Vi - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 130/2024/TLST-DS, ngày 09 tháng 7 năm 2024 việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐXXST-DS, ngày 21 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 88/2024/QĐST-DS, ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng N; Địa chỉ trụ sở: Số B, đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V; Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Quốc H; Chức vụ: Giám đốc A Chi nhánh khu vực Cầu V; Địa chỉ: Ấp F, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Theo Quyết định ủy quyền số 2665, ngày 01/12/2022 của Ngân hàng N. Có mặt

  1. Bị đơn:
  1. Bà Lê Thị Tường D, sinh năm: 1993; Vắng mặt.
  2. Bà Võ Ngọc T, sinh năm: 1971; Có mặt.
  3. Ông Lê Văn T1, sinh năm: 1970; Vắng mặt.

Cả 03 cùng địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Long An.

  1. Ông Dương Minh T2, sinh năm: 1996; Đ chỉ: Ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Vắng mặt.

Bà Lê Thị Tường D, ông Lê Văn T1 và ông Dương Minh Thành ủy Q cho bà Võ Ngọc T, theo văn bản ủy quyền ngày 23/8/2024. Bà T có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Ngân hàng N) ông Ngô Quốc H, trình bày:

Ngày 30/3/2022 Ngân hàng N - chi nhánh K Cầu V (gọi tắt: Ngân hàng) có ký hợp đồng tín dụng số 6617-LAV-202200373 cho bà Lê Thị Tường D, ông Dương Minh T2, bà Võ Ngọc T và ông Lê Văn T1 vay số tiền 1.400.000.000 đồng. Thời hạn vay 60 tháng, lãi suất vay tại thời điểm ký hợp đồng là 11,5%/năm (áp dụng lãi suất thả nổi), lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay đã thỏa thuận, mục đích vay: Xây dựng nhà. Hạn trả nợ: 30/3/2027 (cho từng lần vay).

Để đảm bảo cho khoản vay trên, ngân hàng và bên vay đã ký kết hợp đồng thế chấp số 19/HĐTC ngày 30/3/2022, bà Lê Thị Tường D và ông Dương Minh T2 đã thế chấp 02 thửa đất số 602 và 603, cùng tờ bản đồ số 24, tổng diện tích 1.161,5 m², địa chỉ thửa đất: xã L, huyện T, tỉnh Long An.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng bên vay đã vi phạm thỏa thuận thanh toán gốc lãi cho ngân hàng. Tính đến ngày 08/9/2024, bên vay còn nợ như sau:

Nợ gốc: 1.300.000.000 đồng.

Nợ lãi: lãi trong hạn: 219.400.882 đồng; nợ lãi quá hạn: 2.426.027 đồng; nợ lãi chậm trả: 3.473.029 đồng. Tổng cộng tiền lãi: 225.299.878 đồng. Tổng cộng gốc và lãi: 1.525.299.878 đồng.

Số tiền vay này đã chuyển sang nợ quá hạn, mặc dù ngân hàng đã nhắc nhở thanh toán nợ nhiều lần nhưng bên vay vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lê Thị Tường D, ông Dương Minh T2, bà Võ Ngọc T và ông Lê Văn T1 phải liên đới trả cho ngân hàng số nợ cụ thể như sau: Nợ gốc: 1.300.000.000 đồng. Nợ lãi tổng cộng: 225.299.878 đồng. Tổng cộng gốc và lãi: 1.525.299.878 đồng. Tiền lãi tính đến ngày 08/9/2024.

Ngoài ra bên vay còn phải thanh toán tiền lãi phát sinh sau ngày 08/9/2024 cho đến ngày trả hết nợ gốc, theo hợp đồng tín dụng số 6617-LAV-202200373, ngày 30/3/2022.

Trường hợp bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trên thì Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 19/HĐTC ngày 30/3/2022.

  1. Bà Võ Ngọc T là đồng bị đơn, đồng thời là người được bà Lê Thị Tường D, ông Dương Minh T2 và ông Lê Văn T1 ủy quyền trình bày: Lời trình bày của đại diện ngân hàng về hợp đồng tín dụng mà gia đình bà đã vay và còn thiếu nợ của ngân hàng là đúng. Bà và bà Lê Thị Tường D, ông Dương Minh T2 và ông Lê Văn T1 đồng ý trả số nợ trên theo yêu cầu của ngân hàng, nhưng xin ngân hàng cho gia đình bà thời hạn 5 tháng để sắp xếp bán đất trả nợ cho ngân hàng, mong được chấp nhận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ phát biểu quan điểm: Về tuân thủ pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định về thủ tục tố tụng. Các đương sự chấp hành đúng pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng của nguyên đơn: Buộc các bị đơn phải liên đới thanh toán nợ gốc vay và tiền lãi cho Ngân hàng số tiền là 1.525.299.878 đồng. (Tiền lãi tính đến ngày 08/9/2024) và lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng đến khi trả hết số nợ gốc. Đối với hợp đồng thế chấp khi các bị đơn không trả nợ vốn vay và lãi thì yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Qua lời khai trình của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và các chứng cứ nguyên đơn xuất trình, Hội đồng xét xử xét thấy giữa Ngân hàng N với bà Lê Thị Tường D, ông Dương Minh T2, bà Võ Ngọc T và ông Lê Văn T1 có phát sinh tranh chấp hợp đồng tín dụng; việc tranh chấp và thẩm quyền giải quyết được quy định tại các Điều 26, 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ thụ lý, giải quyết theo quy định.

[2] Hợp đồng tín dụng số 6617-LAV-202200373, ngày 30/3/2022 được bà Lê Thị Tường D, ông Dương Minh T2, bà Võ Ngọc T và ông Lê Văn T1 ký kết với Ngân hàng là hoàn toàn tự nguyện, khi ký hợp đồng các bên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, nội dung hợp đồng phù hợp với pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Lê Thị Tường D, ông Dương Minh T2, bà Võ Ngọc T và ông Lê Văn T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi theo điểm c khoản 2 Điều 7 của hợp đồng tín dụng, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu thanh toán nợ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc bên vay là các đồng bị đơn là bà Lê Thị Tường D, ông Dương Minh T2, bà Võ Ngọc T và ông Lê Văn T1 phải liên đới trả cho ngân hàng số nợ cụ thể như sau: Nợ gốc: 1.300.000.000 đồng. Nợ lãi tổng cộng: 225.299.878 đồng. Tổng cộng gốc và lãi: 1.525.299.878 đồng. Tiền lãi tính đến ngày 08/9/2024.

Ngoài ra, bên vay phải thanh toán tiền lãi phát sinh sau ngày 08/9/2024 cho đến ngày trả hết nợ gốc, theo hợp đồng tín dụng số 6617-LAV-202200373, ngày 30/3/2022.

[3] Trường hợp bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 19/HĐTC ngày 30/3/2022.

[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chổ tài sản thế chấp là 3.000.000 đồng, Ngân hàng đã tạm nộp. Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên buộc các bị đơn phải chịu chi phí này, có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng 3.000.000 đồng.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do buộc các bị đơn phải liên đới trả cho Ngân hàng số tiền 1.525.299.878 đồng nên các bị đơn phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Ngân hàng không phải chịu án phí, hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, Điều 35, 39, 147, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 463, 466, 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 của Luật tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với các bị đơn bà Lê Thị Tường D, ông Dương Minh T2, bà Võ Ngọc T và ông Lê Văn T1.

Buộc các bị đơn bà Lê Thị Tường D, ông Dương Minh T2, bà Võ Ngọc T và ông Lê Văn T1 liên đới trả cho Ngân hàng N số tiền vốn vay là 1.300.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 08/9/2024 là 225.299.878 đồng. Tổng cộng gốc và lãi: 1.525.299.878 đồng. (Một tỷ, năm trăm hai mươi lăm triệu, hai trăm chín mươi chín ngàn, tám trăm bảy mươi tám đồng).

Ngoài ra, các bị đơn bà Lê Thị Tường D, ông Dương Minh T2, bà Võ Ngọc T và ông Lê Văn T1 còn phải tiếp tục liên đới trả tiền lãi cho Ngân hàng N từ ngày 09/9/2024 tính trên số tiền vốn vay chưa thanh toán theo lãi suất nợ quá hạn do hai bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 6617-LAV-202200373, ngày 30/3/2022 cho đến khi thi hành án xong.

Trường hợp bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 19/HĐTC ngày 30/3/2022, các tài sản thế chấp là:

  • Quyền sử dụng đất số CP 243874 do Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh L cấp ngày 30/11/2018, thửa đất số 603, tờ bản đồ số 24, diện tích 961,5 m², loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Long An, do bà Lê Thị Tường D đứng tên QSD đất.
  • Quyền sử dụng đất số BU 220870 do UBND huyện T, tỉnh Long An cấp ngày 24/10/2014, thửa đất số 602, tờ bản đồ số 24, diện tích 200 m², loại đất ở nông thôn, tọa lạc tại ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Long An, do bà Lê Thị Tường D đứng tên QSD đất.
  1. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chổ tài sản thế chấp là 3.000.000 đồng, ngân hàng đã tạm nộp. Do đó buộc các bị đơn bà Lê Thị Tường D, ông Dương Minh T2, bà Võ Ngọc T và ông Lê Văn T1 phải liên đới hoàn trả cho Ngân hàng 3.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Các bị đơn bà Lê Thị Tường D, ông Dương Minh T2, bà Võ Ngọc T và ông Lê Văn T1 phải liên đới chịu 57.758.996 đồng (Năm mươi bảy triệu, bảy trăm năm mươi tám ngàn, chín trăm chín mươi sáu đồng).

Ngân hàng N không phải chịu án phí, hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 28.340.021 đồng (Hai mươi tám triệu, ba trăm bốn mươi ngàn, không trăm hai mươi mốt đồng) theo biên lai số 0009603, ngày 09/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Xuân – Nguyễn Thị Bích Tuyền

Phạm Văn Thái

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 73/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng N "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" Lê Ngọc T, Lê Thị Tường D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger