Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VÂN HỒ

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HSST.

Ngày: 23 - 7- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hồng Nghiêm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phương Thảo và ông Trịnh Lương Hữu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Nguyễn Hương Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại Nhà Văn hóa xã M, huyện V, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm lưu động, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2024/TLST- ST ngày 02 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Thào Thị M, tên gọi khác: Không, sinh năm 1966, tại T, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản K, xã C, huyện V, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Thào A G, con bà Mùa Thị V (Đều đã chết); Bị cáo có chồng là Vừ A L và có 06 con, con lớn nhất sinh năm 1983, con nhỏ nhất sinh năm 2008 Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 07/4/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Bích L1 là Trợ giúp viên pháp lý, thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh S. Có mặt.

Người phiên dịch: Ông Sùng A D, địa chỉ xóm P, xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 07/4/2024, tổ công tác Công an xã C làm nhiệm vụ tại bản Khò Hồng, xã C, huyện V kiểm tra đối với Thào Thị M đang đi bộ trên đường dân sinh. Quá trình kiểm tra Thào Thị M đã tự giác lấy từ trong túi vải thổ cẩm đang đeo trên người ra 01 gói nilon màu đen, bên trong chứa 07 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY giao nộp cho tổ công tác và khai nhận đó là số ma túy của M cất giấu để sử dụng cho bản thân.

Ngày 07/04/2024, Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã tiến hành cân tịnh xác định khối lượng vật thu giữ của Thào Thị M như sau: 07 viên nén màu hồng trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY có tổng khối lượng là 0,74 gam. Lấy 03 viên có khối lượng 0,3 gam làm mẫu giám định ký hiệu “M”. Còn lại 04 viên có khối lượng 0,44 gam ký hiệu “M1” lưu kho vật chứng. Mẫu giám định ký hiệu “M” được bàn giao cho Phòng K Công an tỉnh S giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại kết luận giám định số 876/KL-KTHS ngày 11/04/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu M là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,3 gam. Tổng khối lượng thu giữ là 0,74 gam; loại Methamphetamine. Lại đối tượng giám định: Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra Thào Thị M khai nhận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 07/4/2024, Thào Thị M đi bộ một mình từ nhà tại bản K, xã C, huyện V, tỉnh Sơn La vào khu rừng giáp danh giữa bản Khò Hồng, xã C và bản S, xã C để cắt cỏ cho bò ăn. Khi M đang cắt cỏ thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông, khoảng 30 tuổi (M không biết tên, tuổi, địa chỉ). Mỷ hỏi và mua được của người phụ nữ này 01 gói nilon màu đen bên trong chứa 07 viên hồng phiến với giá 140.000 đồng. Sau khi mua được hồng phiến, M cất giấu vào túi vải thổ cẩm màu đen đang đeo trước bụng. Sau khi cắt cỏ xong M đi bộ về nhà. Đến 16 giờ 00 phút cùng ngày, M đi về đến đầu bản Khò Hồng, xã C, huyện V, tỉnh Sơn La thì gặp tổ công tác Công an xã C, huyện V đang làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, truy tố Thào Thị M về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Thào Thị M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Thào Thị M từ 20 tháng tháng đến 24 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Không đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niên phong bên trong đựng 0,44 gam Methamphetamine cùng vỏ gói phong bì niên phong ban đầu đã bóc mở + vỏ gói ban đầu; 01 túi vải thổ cẩm màu đen có dây đeo màu đen đã qua sử dụng; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng que test thử ma túy và que thử thai của Thào Thị M.

- Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội: Miễn án phí cho bị cáo.

Ý kiến bào chữa của người bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh của Viện kiểm sát. Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo mức hình phạt bị cáo từ 14 đến 20 tháng tù.

Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm cho rằng mức án của Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với tính chất mức độ của hành vi bị cáo đã gây ra và phù hợp với khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ.

Người bào chữa giữ nguyên quan điểm bào chữa cho bị cáo không có tranh luận gì thêm.

Bị cáo nhất trí với lời luận tội của Viện kiểm sát, không có tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Ngày 07/4/2024 Thào Thị M bị phát hiện bắt quả tang có hành vi cất giấu, tàng trữ trái phép 0,74 gam; loại Methamphetamine, mục đích tàng trữ để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[2]. Tính chất hành vi của bị cáo: Bị cáo phạm tội nghiêm trọng, tàng trữ 0,74 gam; loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, nhất là tội phạm về ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm dăn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

[3] Xét nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân bị cáo: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo, bị cáo nhận thức, biết rõ tác hại của ma tuý là nhà nước cấm, coi thường pháp luật, cố tình phạm tội nghiêm trọng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết năng nặng: không có.

Đối với quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị về tội danh điều luật cũng như mức án đối với vụ án là phù hợp với tính chất mức độ của hành vi bị cáo đã gây ra và phù hợp với khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người có tài sản do vậy áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo tham gia tố tụng tuân theo và chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[6]. Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niên phong bên trong đựng 0,44 gam Methamphetamine cùng vỏ gói phong bì niên phong ban đầu đã bóc mở + vỏ gói ban đầu; 01 túi vải thổ cẩm màu đen có dây đeo màu đen đã qua sử dụng; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng que test thử ma túy và que thử thai của Thào Thị M, là những vật cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng do vậy tuyên tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Thào Thị M khai mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông, không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.

[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án phí. Áp dụng Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội: Miễn án phí cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Thào Thị M, phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt Bị cáo Thào Thị M 22 (Hai mươi hai) tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 07/4/2024. Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niên phong bên trong đựng 0,44 gam Methamphetamine cùng vỏ gói phong bì niên phong ban đầu đã bóc mở + vỏ gói ban đầu; 01 túi vải thổ cẩm màu đen có dây đeo màu đen đã qua sử dụng; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng que test thử ma túy và que thử thai của Thào Thị M.

Theo biên bản giao nhận vật chứng số 79 ngày 08/7/2024 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Hồ.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - Công an;
  • - Trại giam;
  • - THA hình sự;
  • - THA dân sự;
  • - Bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Hồng nghiêm

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Vũ Hồng Nghiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HSST. ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 73/2024/HSST.
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 07/4/2024 Thào Thị M bị phát hiện bắt quả tang có hành vi cất giấu, tàng trữ trái phép 0,74 gam; loại Methamphetamine, mục đích tàng trữ để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger