|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 73/2024/HS-ST
Ngày: 23 - 5 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hiệp.
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Rạt.
Bà Trần Thị Thanh Thảo.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hồng Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 75/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trương Tấn L, sinh ngày 05 tháng 02 năm 1994 tại Long An; Căn cước công dân: [...]; Nơi cư trú: Số A, Khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn C và bà Nguyễn Thị L1; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2024/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt bị cáo Trương Tấn L 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo L đang bị tạm giam theo bản án trên; Bị khởi tố cho tại ngoại điều tra đến nay, bị cáo có mặt.
2. Họ và tên: Trần Văn C1, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1991 tại Long An; Căn cước công dân: [...]; Nơi cư trú: Số C, Khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: Lớp 1/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T và bà Lê Thị B; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị khởi tố cho tại ngoại điều tra đến nay, bị cáo có mặt.
- Bị hại: Ông Lý Văn V, sinh năm 1974.
Nơi cư trú: Số C, Khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Hoàng Á, sinh năm 1983.
Nơi cư trú: Số G, Khu phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, xin vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng: Ông Ngô Hồng T1, sinh năm 1986 – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 18 tháng 9 năm 2023, bị cáo Trương Tấn L cùng với bị cáo Trần Văn C1 đến nhà của Nguyễn Đức T2, ngụ tại số :, Khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An chơi. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 19 tháng 9 năm 2023, bị cáo L rủ bị cáo Chung đi tìm tài sản của người khác chiếm đoạt đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, được bị cáo C1 đồng ý. Lúc này, bị cáo C2 lấy xe môtô nhãn hiệu Sirius, màu đen, biển kiểm soát: 60L6-8720 của bị cáo L điều khiển chở bị cáo L ngồi sau đi từ nhà của T2 đến bãi để xe ôtô tải của bị hại Lý Văn V thuộc khu phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An thì bị cáo L nhìn thấy có 03 xe ôtô tải đang để tại khu đất trống không có người trông coi nên bị cáo L kêu bị cáo C2 chạy xe dựng cập lề đường và ở ngoài cảnh giới còn bị cáo L xuống xe lén lút đi đến bên hông trái căn nhà của bị hại V thuê gần nơi để 03 xe ôtô tải, bị cáo L nhìn thấy hồ chứa nước bằng xi măng gần hồ có tấm mủ đậy, bị cáo L dùng tay gỡ tấm mủ thì phát hiện có 01 bộ máy rửa xe gồm 01 môtơ công suất 3HP và đầu bơm màu xám, bị cáo L dùng tay gỡ các cục gạch ra và dùng tay ra hiệu cho bị cáo C2 đi vào cùng với bị cáo L khiêng bộ máy rửa xe mang ra để lên xe môtô của bị cáo L còn bị cáo Chung ngồi sau vịn máy rửa xe, bị cáo L điều khiển xe chở bị cáo Chung đến vựa ve chai bảng hiệu Ấn Gạo của ông Lê Hoàng Á ngụ tại khu phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An và để máy rửa xe ở gần vách vựa ve chai. Sau đó, bị cáo L tiếp tục điều khiển xe chở bị cáo Chung quay lại nơi để xe ôtô tải, bị cáo Chung ở ngoài cảnh giới, bị cáo L đi đến vị trí gắn bình ắc quy trên ôtô tải dùng chìa khóa số 13 (loại chìa khóa dùng để mở ốc do bị cáo L mang theo) mở tán của thanh sắt bảo vệ lấy 02 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai CMF 80D26L, thông số 12V-70A, màu đen mang ra để lên xe môtô của bị cáo L và bị cáo C2 điều khiển xe chở bị cáo L ngồi sau vịn 02 bình ắc quy đến vựa ve chai bảng hiệu Ấ để kế bộ máy rửa xe gần vách vựa ve chai. Sau đó, bị cáo L điều khiển xe chở bị cáo Chung về nhà bị cáo Chung.
Đến khoảng 05 giờ 00 phút ngày 19 tháng 9 năm 2023, bị cáo Chung điều khiển xe môtô nhãn hiệu Sirius, màu đen, biển kiểm soát: 60L6-8720 của bị cáo L đến vựa ve chai bảng hiệu Ấn G lấy bộ máy rửa xe và 02 bình ắc quy để cập vách vựa ve chai bán cho ông Á được số tiền 1.620.000đồng, bị cáo C2 chia cho bị cáo L 750.000, bị cáo Chung 870.000đồng, tiêu xài cá nhân hết.
Đến ngày 01 tháng 10 năm 2023, bị hại Vấn trình báo sự việc đến Công an thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An tố giác yêu cầu xử lý các bị cáo Trương Tấn L và Trần Văn C1 theo quy định pháp luật.
Vật chứng tạm giữ gồm: 02 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai CMF 80D26L, thông số 12V-70A, màu đen; 01 bộ máy rửa xe gồm 01 mô tơ công suất 3HP và đầu bơm, màu xám, thu giữ của ông Lê Hoàng Á.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 142/KL-HĐĐGTS ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Long An kết luận: 02 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai CMF 80D26L, thông số 12V-70A, màu đen có trị giá 2.880.000đồng; 01 bộ máy rửa xe gồm 01 môtơ công suất 3HP và đầu bơm màu xám có trị giá 3.168.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 6.048.000đồng.
Ngày 12 tháng 01 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điểu tra Công an huyện Đ tiến hành trao trả 02 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai CMF 80D26L, thông số 12V-70A, màu đen; 01 bộ máy rửa xe gồm 01 môtơ công suất 3HP và đầu bơm màu xám cho bị hại Lý Văn V là chủ sở hữu hợp pháp xong.
Tại Tòa, các bị cáo Trương Tấn L và Trần Văn C1 hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố, không đưa ra chứng cứ nào để minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại bản cáo trạng số: 75/CT-VKS-ĐH ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Trương Tấn L và Trần Văn C1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà các bị cáo Trương Tấn L và Trần Văn C1 gây ra; Đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Trương Tấn L và Trần Văn C1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự, đề nghị:
Xử phạt bị cáo Trương Tấn L với mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Đồng thời, căn cứ khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt với bản án số: 30/2024/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An; Buộc bị cáo Trương Tấn L chấp hành hình phạt chung cho 02 bản án. Thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 11 năm 2023.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự, đề nghị:
Xử phạt bị cáo Trần Văn C1 với mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Lý Văn V sau khi nhận lại tài sản xong không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không đề cập xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Lê Hoàng Á không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không đề cập xem xét.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Về tang vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp xong nên không đề cập xem xét.
Đối với chìa khóa số 13 (loại chìa khóa dùng để mở ốc). Sau khi phạm tội, bị cáo L đã vứt bỏ không xác định được địa điểm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không thu hồi được. Do đó, không đề cập xử lý.
Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Sirius, màu đen, biển kiểm soát: 60L6-8720. Xét xe này do bà Nguyễn Thị V1 đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe nhưng bà V1 đã bán lại cho người không rõ nhân thân lai lịch và bị cáo L cũng mua lại của người không rõ nhân thân lai lịch dùng vào việc phạm tội. Sau khi thực hiện hành vi, bị cáo L đã bán xe môtô nêu trên cho người không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không thu hồi được. Do đó, không đề cập xử lý.
Đối với ông Lê Hoàng Á có hành vi người mua 02 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai CMF 80D26L, thông số 12V-70A, màu đen; 01 bộ máy rửa xe gồm 01 máy mơm (môtơ) công suất 3HP và đầu bơm, màu xám do các bị cáo phạm tội mà có. Xét về ý thức chủ quan, ông Á không biết tài sản trên do các bị cáo trộm cắp mà có nên hành vi của ông Á không cấu thành tội phạm có liên quan. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không khởi tố tội danh liên quan là phù hợp nên không đề cập xem xét.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử, các quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử sơ thẩm là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[1.2] ] Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án xin vắng mặt; Người làm chứng vắng mặt không lý do nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án, trước tòa các bị cáo Trương Tấn L và Trần Văn C1 khai nhận: Xuất phát từ việc muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không cần bỏ công sức ra lao động nên vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 19 tháng 9 năm 2023, tại bãi để xe của bị hại V thuộc khu phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An thì các bị cáo Trương Tấn L và Trần Văn C1 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại Vấn gồm: 02 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai CMF 80D26L, thông số 12V-70A, màu đen, trị giá 2.880.000đồng; 01 bộ máy rửa xe gồm 01 môtơ công suất 3HP và đầu bơm, màu xám, trị giá 3.168.000đồng. Tổng trị giá là 6.048.000đồng.
Lời khai nhận của các bị cáo Trương Tấn L và Trần Văn C1 trước Tòa phù hợp với lời khai của bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, của người làm chứng, phù hợp với biên bản định giá tài sản ngày 17 tháng 11 năm 2023 và tang vật chứng thu giữ đã được thẩm tra xác minh công khai tại phiên Tòa, phù hợp với nội dung Cáo trạng. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Trương Tấn L và Trần Văn C1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3] Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Trương Tấn L và Trần Văn C1 với tội danh và Điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà các bị cáo Trương Tấn L và Trần Văn C1 gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác - quyền này được pháp luật Hình sự bảo vệ nếu người nào cố tình xâm hại thì sẽ bị pháp luật trừng phạt. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến tài sản của bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trái pháp luật của các bị cáo cần xử lý nghiêm theo pháp luật Hình sự.
[4] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn nhưng cũng cần phân tích vai trò của từng bị cáo để áp dụng mức hình phạt cho tương xứng với hành vi của từng bị cáo gây ra.
[4.1] Đối với bị cáo Trương Tấn L là người đề xuất, rủ rê bị cáo Chung cùng đi trộm cắp tài sản của người khác nhằm mục đích đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cần xử lý nghiêm theo pháp luật Hình sự, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo với xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục - răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét về nhân thân: Bị cáo có nhân xấu vì trong năm 2023, bị cáo đã thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” và đã bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tuyên phạt 09 tháng tù. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi áp dụng hình phạt. Xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Trương Tấn L là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4.2] Đối với bị cáo Trần Văn C1 là đồng phạm với bị cáo L trong vai trò người người thực hành, sau khi nghe bị cáo L rủ đi trộm cắp tài sản của người khác lẽ ra bị cáo phải ngăn cản nhưng ngược lại bị cáo lại đồng tình và tham gia thực hiện hành vi một cách tích cực, bị cáo đã trực tiếp điều khiển xe chở bị cáo L đi trộm cắp tài sản và trực tiếp đem bán tài sản nhằm mục đích lấy tiền chia nhau tiêu xài. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cũng cần xử lý nghiêm theo pháp luật Hình sự, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo với xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục - răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét về nhân thân: Bị cáo có nhân tốt. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi áp dụng hình phạt. Xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Trần Văn C1 là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Trương Tấn L và Trần Văn C1 không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
[6.1] Bị hại sau khi nhận lại tài sản xong không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[6.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ ông Lê Hoàng Á không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[7] Về tang vật chứng:
[7.1] Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp xong nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[7.2] Đối với chìa khóa số 13 (loại chìa khóa dùng để mở ốc vít). Sau khi phạm tội, bị cáo L đã vứt bỏ không xác định được địa điểm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không thu hồi được. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
[7.3] Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Sirius, màu đen, biển kiểm soát: 60L6-8720. Xét xe này do bà Nguyễn Thị V1 đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe nhưng bà V1 đã bán lại cho người không rõ nhân thân lai lịch và bị cáo L cũng mua lại từ người không rõ nhân thân lai lịch dùng vào việc phạm tội. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo L đã bán xe môtô nêu trên cho người không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không thu hồi được. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
[8] Đối với ông Lê Hoàng Á có hành vi mua 02 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai CMF 80D26L, thông số 12V-70A, màu đen; 01 bộ máy rửa xe gồm 01 máy mơm (môtơ) công suất 3HP và đầu bơm, màu xám do các bị cáo phạm tội mà có. Xét về ý thức chủ quan, ông Á không biết tài sản trên do các bị cáo trộm cắp mà có nên hành vi của ông Á không cấu thành tội phạm có liên quan. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không khởi tố tội danh liên quan là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[9] Về án phí: Buộc các bị cáo Trương Tấn L và Trần Văn C1 phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 17, Điều 58, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Trương Tấn L và Trần Văn C1 phạm tội “Trộm cắp tài sản".
Xử phạt bị cáo Trương Tấn L 01 năm tù.
Căn cứ khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt với bản án số: 30/2024/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An; Buộc bị cáo Trương Tấn L chấp hành hình phạt chung cho 02 bản án là 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 11 năm 2023.
Căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Trương Tấn L 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 23 tháng 5 năm 2024) để đảm bảo cho việc thi hành án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 17, Điều 58, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn C1 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Trương Tấn L và Trần Văn C1 theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án; Buộc các bị cáo Trương Tấn L và Trần Văn C1 mỗi bị cáo nộp số tiền 200.000đồng án phí Hình sự sơ thâm sung vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Án này là sơ thẩm, các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Hiệp |
7/7
Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 73/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trom
