Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH TÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2023/HS-ST

Ngày: 22-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hùng

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Minh Thư

Ông Trương Văn Ánh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Điền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Duẩn - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

Bị cáo thứ nhất: Phạm Ngọc Đ, sinh ngày 05/9/2004 tại huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: Tổ C, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thành D và bà Lý Thị Mỹ N; chưa có vợ, con; Tiền án: 01 lần, ngày 26/10/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 02/7/2023 chấp hành xong hình phạt tù (chưa được xóa án tích); Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ ngày 03/8/2023, tạm giam ngày 09/8/2023, có mặt tại phiên tòa.

Bị cáo thứ hai: Phạm Thanh S, sinh ngày 28/7/2003 tại huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: Tổ 05, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hữu N1 và bà Nguyễn Thị Tuyết H; chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Ngọc Đ và Phạm Thanh S là bạn bè, cả hai đều nghiện ma túy và thường xuyên hùn tiền lại để mua ma túy về sử dụng chung.

Vào khoảng 06 giờ ngày 03/8/2023, Phạm Ngọc Đ và Nguyễn Văn L đang ở nhà của chị Nguyễn Thị L1 tại tổ A, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long thì Phạm Thanh S điện thoại đến hỏi L có ma túy không để S vào sử dụng chung, L nói không có nhưng rủ S vào nhà chị L1 chơi. S mới điều khiển xe mô tô biển số 59K2 - 117.04 đi đến nhà chị L1 gặp L và Đ. L kêu S đưa 200.000 đồng cho Đ mà không nói rõ để làm gì, nhưng S và Đá tự hiểu là đưa tiền đi mua ma túy về sử dụng chung. S đưa cho Đ 200.000 đồng rồi Đ lấy xe của S điều khiển đi mua ma túy.

Phạm Ngọc Đ điều khiển xe đến khu vực chợ B thuộc phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long Đá lấy 20.000 đồng của mình để hùn vào mua bịch ma túy với số tiền 250.000 đồng của một người đàn ông (không rõ họ tên và địa chỉ), Đ chỉ trả 220.000 đồng còn thiếu lại 30.000 đồng. Đá mua ma túy xong điều khiển xe đi về nhà của chị L1 thì gặp Lực lượng Công an huyện B, tỉnh Vĩnh Long đến nên Đ bỏ xe chạy bộ vào nhà vệ sinh rồi ném bỏ bịch ma túy vừa mua xuống nền gạch trong nhà vệ sinh nhưng bị lực lượng Công an đuổi theo phát hiện bắt quả tang và tiến hành lập biên bản niêm phong bịch ma túy lại có chữ ký xác nhận của Đ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành Test nhanh chất ma túy trong người Phạm Ngọc Đ và Phạm Thanh S. Kết quả Đ dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine, S âm tính với chất ma túy.

Quá trình điều tra Phạm Ngọc Đ và Phạm Thanh S thừa nhận hành vi hùn tiền mua ma túy về để sử dụng thì bị bắt quả tang, còn L thì chưa hùn tiền vào mua ma túy.

Theo kết luận giám định số 557/KLGĐ-PC09 ngày 07/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: “Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 bịch nylon được niêm phong trong bao thư gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2492 gam, loại Methamphetamine".

Xét thấy đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm vào ngày 08/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phạm Ngọc Đ, Phạm Thanh S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ra lệnh tạm giam để điều tra đối với Phạm Ngọc Đ, Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Phạm Thanh S để điều tra cho đến nay.

Quá trình điều tra cơ quan CSĐT chứng minh được như sau:

Đối với chiếc xe mô tô biển số 59K2 - 117.04 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen của Phạm Thanh S, không có liên quan đến vụ án nên Công an huyện B đã trả lại cho S.

Đối với 01 gói niêm phong ghi số 557 được hoàn lại sau giám định, bên trong có chứa chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1690 gam (còn lại sau giám định) cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 ống thủy tinh là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông không rõ họ tên và địa chỉ, có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Phạm Ngọc Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đang xác minh, khi nào làm rõ sẽ xem xét xử lý sau.

Đối với Nguyễn Văn L chưa hùn tiền mua ma túy nhưng sau khi xảy ra vụ việc trên L đã bỏ địa phương đi, không rõ đi đâu nên không làm việc được, Cơ quan điều tra có thu thập tài liệu nhưng chưa đủ chứng cứ, chứng minh được hành vi phạm tội của L, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số: 73/CT-VKSBT, ngày 02/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long truy tố các bị cáo Phạm Ngọc Đ, Phạm Thanh S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của các bị cáo, năng lực trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Phạm Ngọc Đ, Phạm Thanh S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Ngọc Đ, Phạm Thanh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính:

  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Đ từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Xử phạt bị cáo Phạm Thanh S từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo Phạm Ngọc Đ, Phạm Thanh S có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Đ và bị cáo S.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

Đối với chiếc xe mô tô biển số 59K2 - 117.04 và 01 điện thoại di động hiệu S1 màu đen của bị cáo Phạm Thanh S, không có liên quan đến vụ án, Công an huyện B đã trả lại cho bị cáo S, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với 01 gói niêm phong ghi số 557 được hoàn lại sau giám định, bên trong có chứa chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1690 gam (còn lại sau giám định) và 01 ống thủy tinh là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B có sao chép vào 02 đĩa DVD đoạn ghi âm, ghi hình ảnh hỏi cung bị cáo Phạm Ngọc Đ và bị cáo Phạm Thanh S, đề nghị Hội đồng xét xử lưu theo hồ sơ vụ án để làm chứng cứ.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Phạm Ngọc Đ, Phạm Thanh S mỗi bị cáo nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Các bị cáo Phạm Ngọc Đ, Phạm Thanh S thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long đã truy tố, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Nói lời sau cùng các bị cáo Phạm Ngọc Đ, Phạm Thanh S xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận của các bị cáo Phạm Ngọc Đ, Phạm Thanh S tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản xảy ra sự việc, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa. Có đủ căn cứ xác định: Vào lúc 7 giờ 30 phút ngày 03/8/2023 lực lượng Công an huyện B, tỉnh Vĩnh Long kết hợp với Công an xã T, huyện B tiến hành kiểm tra khu vực tổ A, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long phát hiện bị cáo Phạm Ngọc Đ điều khiển xe mô tô biển số 59K2 - 117.04 đi

đến có tàng trữ trái phép chất ma túy, khi bị cáo Đ vừa dừng xe bước xuống thì Lực lượng Công an đến kiểm tra nên bị cáo Đ bỏ chạy vào nhà vệ sinh trong nhà bà L1 rồi bỏ bịch ma túy đá xuống nền gạch thì bị lực L2 Công an phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Quá trình điều tra bị cáo Phạm Ngọc Đ và bị cáo Phạm Thanh S thừa nhận bịch ma túy trên là do bị cáo S đưa 200.000 đồng cho bị cáo Đ đi mua ma túy, rồi bị cáo Đ hùn thêm tiền 20.000 đồng để mua bịch ma túy với giá 250.000 đồng (bị cáo Đ còn thiếu lại người bán 30.000 đồng) khi về đến nhà bà L1 thì bị bắt quả tang.

Theo kết luận giám định ngày 07/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận “Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 bịch nylon được niêm phong trong bao thư gửi giảm định là ma túy, có khối lượng 0,2492 gam, loại Methamphetamine”.

Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm Ngọc Đ và bị cáo Phạm Thanh S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định như sau:

  1. “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
  • c) Methamphetamine ....có khối lượng từ 0,1 đến dưới 05 gam;

Tội phạm các bị cáo thực hiện đã hoàn thành. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long truy tố các bị cáo với tội danh cùng điều luật nêu trên là có căn cứ, hoàn toàn đúng người, đúng tội.

[3] Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội:

Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Phạm Ngọc Đ và bị cáo Phạm Thanh S là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Ma túy là một loại độc dược gây nghiện, khi sử dụng sẽ làm cho con người bị lệ thuộc và mất đi nhân cách, là nguyên nhân gây ra sự suy thoái về đạo đức và cũng là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Các bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân các bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy, nhưng vì để thỏa mãn cơn nghiện các bị cáo đã mua ma túy loại Methamphetamine để sử dụng, bất chấp hậu quả xảy ra. Hành vi của các bị cáo không những gây thiệt hại đến kinh tế gia đình, người thân và của chính các bị cáo mà còn làm ảnh hưởng đến sức khỏe các bị cáo và làm gia tăng tệ nạn xã hội. Chính vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, vì các bị cáo không bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể. Cả 02 bị cáo cùng rủ nhau hùn tiền để mua ma túy về sử dụng, bị cáo S thì đưa tiền hùn nhiều hơn, còn bị cáo Đ thì trực tiếp đi mua ma túy thì bị công an bắt quả tang, vì vậy mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo là như nhau, nên mức hình phạt áp dụng cho các bị cáo là bằng nhau. Do đó, bị cáo Phạm Ngọc Đ và bị cáo Phạm Thanh S phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của các bị cáo đã gây ra.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt cho các bị cáo Hội đồng xét xử cũng đã xem xét sau khi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cũng như trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng để giảm nhẹ cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo Phạm Thanh S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với bị cáo Phạm Ngọc Đ có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội là thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét, cân nhắc và áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của từng bị cáo đã thực hiện có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Phạm Ngọc Đ và bị cáo Phạm Thanh S là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và việc làm ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Đ và S.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

Đối với xe mô tô biển số 59K2 - 117.04 và 01 điện thoại di động hiệu S1 màu đen của bị cáo Phạm Thanh S, không có liên quan đến vụ án, Công an huyện B đã trả lại cho bị cáo S, Hội đồng xét xử chấp nhận không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với 01 gói niêm phong ghi số 557 được hoàn lại sau giám định, bên trong có chứa chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1690 gam (còn lại sau giám định) và 01 ống thủy tinh là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy cần tịch thu tiêu hủy.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B có sao chép vào 02 đĩa DVD đoạn ghi âm, ghi hình ảnh hỏi cung bị cáo Phạm Ngọc Đ và bị cáo Phạm Thanh S, cần lưu theo hồ sơ vụ án để làm chứng cứ.

[7] Đối với người đàn ông không rõ họ tên và địa chỉ, có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đang xác minh, khi nào làm rõ sẽ xem xét xử lý sau.

[8] Đối với Nguyễn Văn L chưa hùn tiền mua ma túy, nhưng sau khi xảy ra vụ việc trên L đã bỏ địa phương đi, không rõ đi đâu nên không làm việc được, Cơ quan điều tra có thu thập tài liệu nhưng chưa đủ chứng cứ, chứng minh được hành vi phạm tội của L, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[9] Xét đề nghị của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo Phạm Ngọc Đ, Phạm Thanh S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc Đ và bị cáo Phạm Thanh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/8/2023.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Xử phạt bị cáo Phạm Thanh S 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  • Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Phạm Ngọc Đ và bị cáo Phạm Thanh S.
  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong ghi số 557 được hoàn lại sau giám định, bên trong có chứa chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1690 gam (còn lại sau giám định) và 01 ống thủy tinh là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy.

Lưu theo hồ sơ vụ án 02 đĩa DVD đoạn ghi âm, ghi hình ảnh hỏi cung bị cáo Phạm Ngọc Đ và bị cáo Phạm Thanh S để làm chứng cứ.

(Các vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/11/2023).

  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Ngọc Đ và bị cáo Phạm Thanh S mỗi bị cáo nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

  1. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long (PKTNV và THA);
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long;
  • - Công an tỉnh Vĩnh Long (Phòng hồ sơ);
  • - VKSND huyện Bình Tân;
  • - Công an H.Bình Tân (CQTHAHS, CQĐT, NTG);
  • - Chi cục THADS huyện Bình Tân;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thanh Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 73/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc Đ, Pham Thanh S - Phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger