Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THỐT NỐT

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HS-ST.

Ngày: 22-8-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Tăng Tài Thủ

- Ông Lê Hồng Vũ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Hồng Quốc Vệ - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 61/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2022 đối với các bị cáo:

  1. Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1992; nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1971 và bà Lê Thị D, sinh năm 1971; Vợ tên Nguyễn Thị C, sinh năm 1985; Con có 01 người, sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không; Về nhân thân: Năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xử phạt 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, theo bản án số 44/2012/HSST ngày 14/12/2012, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2018 (đã xóa án tích); Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an quận T (có mặt).
  2. Huỳnh Văn Đô E, sinh năm 2003; nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1971 và bà Lê Thị D, sinh năm 1971; Vợ tên Võ Thị Thảo N, sinh năm 2006; Con có 01 người, sinh tháng 8/2024; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an quận T (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn Đ: Trợ giúp viên pháp lý ông Đặng Trúc P – Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố C (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn Đ Em: Trợ giúp viên pháp lý bà Nguyễn Thị Chúc L – Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố C (có mặt).

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn T1 – sinh năm 1975. Nơi cư trú: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Khưu Ngọc H – sinh năm 1975. Nơi cư trú: ấp V, thị trấn V, huyện V, thành phố Cần Thơ. Xin vắng mặt.
  2. Bà Cao Thị Kiều T2 – sinh năm 1986. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
  3. Ông Huỳnh Văn T – sinh năm 1971. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
  4. Bà Nguyễn Thị C – sinh năm 1985. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
  5. Chị Võ Thị Thảo N – sinh năm 2006. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài Huỳnh Văn Đ rủ Huỳnh Văn Đô E (là em ruột của Đ) đi trộm gà bán lấy tiền tiêu xài, Đô E đồng ý. Khoảng 04 giờ ngày 22/4/2024, Đ tháo gỡ biển số 65K1-344.42 của xe mô tô honda Wave gắn biển số khác (Đ không nhớ cụ thể biển số mấy) vào xe mô tô honda Wave chỡ Đô E đi từ xã T hướng ra T để tìm gà lấy trộm. Khi đi đến cầu C thuộc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, Đô E phát hiện ông Nguyễn Văn T1 đang đứng trên cầu tập thể dục, trên cổ ông T1 có đeo sợi dây chuyền màu vàng nên Đô E nói với Đ: “kiếm gà không có thì thôi làm luôn đi”, Đ cũng nhìn thấy ông T1 nên hiểu ý của Đô E và đồng ý. Liền lúc này, Đ điều khiển xe mô tô honda Wave áp sát phía bên phải ông T1, Đô E ngồi sau dùng tay phải giật sợi dây chuyền màu vàng trên cổ của ông T1, Đ thấy Đô E đã giật được dây chuyền của ông T1 nên tăng ga bỏ chạy vào tuyến tránh T. Trên đường đi, Đô E đưa sợi dây chuyền vàng vừa cướp giật được cho Đ cất giữ và cả hai đi về nhà. Khi đến bãi đất trống, Đ ngừng xe để cả hai thay đổi trang phục, Đ còn tháo gỡ biển số xe dùng để thực hiện hành vi cướp giật ném bỏ và gắn biển số 65K1-344.42 vào xe mô tô honda Wave. Sau đó, Đ tiếp tục điều khiển xe chỡ Đô Em về nhà.

2

Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe mô tô biển số 65K1-344.42 chỡ Nguyễn Thị C (vợ Đ) đến tiệm V tại ấp V, thị trấn V, huyện V, thành phố Cần Thơ bán sợi dây chuyền trọng lượng 1,020 lượng loại 16K cướp giật của ông T1 cho ông Khưu Ngọc H được 45.900.000 đồng. Sau khi bán sợi dây chuyền, Đ đưa cho Đ Em 12.000.000 đồng, đưa cho C 28.800.000 đồng, Đ giữ 5.100.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Riêng ông T1 sau khi bị cướp giật sợi dây chuyền ông đến Công an phường T trình báo.

Khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận tiến hành trích xuất camera an ninh xác định Huỳnh Văn ĐHuỳnh Văn Đ Em là người thực hiện hành vi cướp giật sợi dây chuyền màu vàng của ông Nguyễn Văn T1 và tiến hành mời ĐĐô E làm việc. Qua làm việc ĐĐô E thừa nhận hành vi phạm tội và giao nộp tài sản, tang vật gồm: Đô giao nộp 01 xe mô biển số 65K1 – 34442 loại honda wave; 01 nón bảo hiểm có chữ Tonato; 01 đôi dép màu trắng; tiền Việt Nam 3.600.000 đồng; Đô Em giao nộp 01 quần thun màu trắng; 01 áo kháo màu đen; 01 xe mô tô biển kiểm soát 65K1-491.92; 01 đôi dép màu trắng; 01 nón bảo hiểm màu đen; Nguyễn Thị C giao nộp tiền Việt Nam 30.300.000 đồng; 01 áo khoác màu nâu xám; 01 áo thun màu xám đen có dòng chữ tiệm Đ1; 01 quần thun màu đen; 01 nón kết màu trắng có dòng chữ Y; Võ Thị Thảo N giao nộp tiền Việt Nam 12.000.000 đồng (Bút lục 81 đến 85).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 37/BKL-HĐĐGTS ngày 29 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận T kết luận: 01 (một sợi) dây chuyền vàng 16k, có trọng lượng 1,020 lượng, đã qua sử dụng, với giá trị là 46.920.000 đồng (Bút lục 61 và 62).

Trong điều tra, các bị cáo và bị hại đều không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá nêu trên.

Về tang vật: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T tạm giữ theo quy định và ra quyết định xử lý vật chứng trả lại Nguyễn Văn T1 45.900.000 đồng, trả cho ông Huỳnh Văn T một xe mô tô biển kiểm soát 65K1 – 491.92 do không liên quan đến hành vi phạm tội (Bút lục 65 đến 67).

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn T1 đã nhận lại số tiền bồi thường giá trị sợi dây chuyền và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Huỳnh Văn ĐHuỳnh Văn Đô E đã khai nhận hành vi phạm tội, thống nhất nội dung cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, các bị cáo không ý kiến gì khác.

Bị hại ông Nguyễn Văn T1 trình bày: Trong điều tra ông cũng đã nhận số tiền bồi thường giá trị sợi dây chuyền là 45.900.000 đồng nên ông không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm về dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt vẫn giữ nguyên ý kiến như

3

trong quá trình điều tra, không trình bày gì thêm.

Tại Cáo trạng số 74/CT-VKSTN ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ truy tố các bị cáo Huỳnh Văn ĐHuỳnh Văn Đ Em về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự).

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố; đồng thời phát biểu quan điểm luận tội phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Văn ĐHuỳnh Văn Đ Em phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; 58 của Bộ luật hình sự đối với Huỳnh Văn ĐHuỳnh Văn Đ Em. Đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Đ từ 03 đến 04 năm tù; xử phạt Huỳnh Văn Đ Em từ 03 đến 04 năm.

- Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị:

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô Wave Anpha màu xám bạc đen, biển kiểm soát 65K1 – 34442, không kính phải thu giữ của Huỳnh Văn Đ do đây là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) nón bảo hiểm có chữ Tonato và 01 (một) đôi dép tổ ong màu trắng thu giữ của Huỳnh Văn Đ; 01 (một) quần thun vải màu trắng; 01 (một) áo kháo màu đen; 01 (một) đôi dép tổ ong màu trắng và 01 (một) nón bảo hiểm màu đen thu giữ của Huỳnh Văn Đ Em; 01 (một) áo khoác màu nâu xám; 01 (một) áo thun nam tay ngắn màu xám đen có dòng chữ tiệm Đ1; 01 (một) quần thun ống dài màu đen và 01 (một) nón kết màu trắng có dòng chữ Yankees thu giữ của Nguyễn Thị C do không có giá trị sử dụng và Đ, Đô E, C không có nhu cầu nhận lại.

Trong điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại bị hại Nguyễn Văn T1 số tiền 45.900.000 đồng, trả cho ông Huỳnh Văn T một xe mô tô biển kiểm soát 65K1 – 491.92 do không liên quan đến hành vi phạm tội là phù hợp nên không đề cập giải quyết.

- Về trách nhiệm dân sự: Trong điều tra ông Nguyễn Văn T1 đã nhận lại số tiền bồi thường giá trị sợi dây chuyền bị mất là 45.900.000 đồng xong, ông không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

- Về án phí: Đề nghị miễn cho các bị cáo do thuộc diện hộ cận nghèo.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn Đ trình bày ý kiến bào chữa cho bị cáo: Thống nhất tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân

4

quận Thốt Nốt truy tố đối với bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Ngoài ra, Trợ giúp viên còn đề cập đến nhân thân bị cáo tốt chưa tiền án, tiền sự, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo tại địa phương, nhận thức pháp luật hạn chế, động cơ phạm tội do hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, mẹ bệnh, vợ đang mang thai. Trên cơ sở đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hình phạt dành cho bị cáo theo mức thấp nhất đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn Đ Em trình bày ý kiến bào chữa cho bị cáo: Thống nhất tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt truy tố đối với bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Ngoài ra, Trợ giúp viên còn đề cập đến nhân thân bị cáo tốt chưa tiền án, tiền sự, gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo tại địa phương, nhận thức pháp luật hạn chế, động cơ phạm tội do hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, mẹ bệnh, vợ đang mang thai. Trên cơ sở đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hình phạt dành cho bị cáo theo mức thấp nhất đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo ĐĐô E thống nhất với ý kiến bào chữa của Trợ giúp viên, các bị cáo không tham gia tranh luận. Bị hại ông T1 không tham gia tranh luận, nhưng nay nhận thấy các bị cáo cũng đã biết ăn năn, hối cải, hoàn cảnh gia đình các bị cáo cũng khó khăn nên ông xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt không trình bày gì thêm.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đã ăn năm hối cải về hành vi đã phạm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để các bị cáo sớm trở về đoàn tụ với gia đình và phấn đấu sống có ích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, có người liên quan vắng mặt nhưng xét trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra cũng đã thu thập được lời khai của người liên quan vắng mặt nên trường hợp xét thấy cần thiết Hội đồng xét xử sẽ

5

công bố lời khai của người vắng mặt tại Tòa. Do đó việc vắng mặt của người liên quan không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung là phù hợp.

[3] Về nội dung: Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, các bị cáo Huỳnh Văn ĐHuỳnh Văn Đ Em đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ như: các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai của bị hại, người liên quan, kết luận định giá tài sản, biên bản khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng...

Như vậy, có cơ sở xác định, vào khoảng 04 giờ ngày 22/4/2024, bị cáo Huỳnh Văn Đ điều khiển xe mô tô honda Wave chở theo Huỳnh Văn Đ Em ngồi sau, khi đi đến cầu C thuộc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, Đô E phát hiện ông Nguyễn Văn T1 có đeo sợi dây chuyền màu vàng nên Đô E rủ Đ cùng nhau cướp giật sợi dây chuyền để bán lấy tiền tiêu xài thì Đ đồng ý. Liền lúc này, Đ điều khiển xe áp sát phía bên phải ông T1, Đô E ngồi sau dùng tay phải giật lấy sợi dây chuyền màu vàng trên cổ của ông T1 rồi Đ nhanh chóng tăng ga xe chạy tẩu thoát, qua định giá 01 (một) sợi dây chuyền có trọng lượng 1,020 lượng vàng 16K, trị giá 46.920.000 đồng. Hành vi sai trái mà các bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại Điều 171 của Bộ luật hình sự. Do khi gây án, các bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương tiện có khả năng gây ra nguy hiểm cho người bị hại cũng như nhiều người đi đường khác. Do vậy, các bị cáo phải gánh chịu tình tiết định khung theo quy định tại điểm d khoản 2 của Điều luật này. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: tội phạm mà các bị cáo gây ra không chỉ xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân mà còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo sử dụng xe gắn máy là nguồn nguy hiểm cao độ làm phương tiện cướp giật tài sản và tăng ga nhanh chóng tẩu thoát có khả năng gây ra nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của bị hại cũng như nhiều người đi đường khác và cả bản thân các bị cáo. Trong vụ án có hai bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có sự câu kết, phân công cụ thể nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét đánh giá vai trò, mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp.

Xét, bị cáo Đô E vừa là người khởi xướng vừa là người thực hiện hành vi cướp giật sợi dây chuyền của bị hại. Còn bị cáo Đ với vai trò là đồng phạm, tham gia giúp sức cho bị cáo Đô E để cướp giật tài sản của người khác. Mặc dù, giữa các bị cáo không có bàn tính, phân công nhiệm vụ cụ thể trước, tuy nhiên khi bị cáo Đô E phát hiện bị hại có đeo sợi dây chuyền trên cổ và đề xuất rủ bị cáo Đ cùng cướp giật tài sản để bán lấy tiền tiêu xài bị cáo Đ không can ngăn

6

mà còn đồng tình và giúp sức tích cực cho Đô E thực hiện tội phạm, sau khi cướp giật được sợi dây chuyền chính bị cáo Đ là người đi bán sợi dây chuyền, cũng chính bị cáo Đ là người đứng ra chia tiền có được từ việc bán tài sản cướp giật mà có nên xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo là ngang nhau. Vì vậy, thiết nghĩ cần phải dành cho các bị cáo mức hình phạt tương xứng như đại diện Viện kiểm sát đề nghị để các bị cáo có đủ thời gian sửa chữa sai phạm của chính mình từ đó có ý thức tôn trọng, chấp hành pháp tốt Pháp Luật của Nhà nước.

Về nhân thân: Bị cáo Đô E có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự. Đối với bị cáo Đ có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích” đã được xóa án tích.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có cân nhắc trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã nhận thức được hành vi sai trái của bản thân nên đã vận động gia đình bồi thường, khắc phục xong cho bị hại số tiền 45.900.000 đồng và tại phiên tòa phía bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, hiện tại hoàn cảnh gia đình các bị cáo cũng rất khó khăn, mẹ các bị cáo thường hay đau yếu, bị cáo Đ có con nhỏ và vợ đang mang thai, còn bị cáo Đô E vợ cũng mới sinh con được khoảng 2 tuần để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo tốt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về tình tiết khác:

Đối với Khưu Ngọc H có hành vi mua 01 sợi dây chuyền vàng 16k, có trọng lượng 1,020 lượng của Huỳnh Văn ĐNguyễn Thị C, do H không biết sợi dây chuyền là do Huỳnh Văn ĐHuỳnh Văn Đ Em cướp giật mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là phù hợp vì vậy Hội đồng xét xử không xét đến.

Đối với Nguyễn Thị C không biết sợi dây chuyền 01 sợi dây chuyền vàng 16k, có trọng lượng 1,020 lượng là do Huỳnh Văn Đ phạm tội mà có nên không đủ cơ sở để xử lý vì vậy không xét đến.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Do các bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên căn cứ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số

7

326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn nộp án phí cho các bị cáo là phù hợp.

[9] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở;

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1,khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Huỳnh Văn ĐHuỳnh Văn Đô E.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1. Về tội danh và mức hình phạt:

Tuyên bố: Các bị cáo Huỳnh Văn ĐHuỳnh Văn Đ Em phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt:

  • Bị cáo Huỳnh Văn Đ 03 (ba) năm tù.
  • Bị cáo Huỳnh Văn Đô E (03) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo ĐĐô E tính từ ngày các bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 23/4/2024.

Hình phạt bổ sung: Miễn cho các bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô Wave Anpha màu xám bạc đen, biển kiểm soát 65K1 – 34442, không kính phải thu giữ của Huỳnh Văn Đ.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) nón bảo hiểm có chữ Tonato và 01 (một) đôi dép tổ ong màu trắng thu giữ của Huỳnh Văn Đ; 01 (một) quần thun vải màu trắng; 01 (một) áo kháo màu đen; 01 (một) đôi dép tổ ong màu trắng và 01 (một) nón bảo hiểm màu đen thu giữ của Huỳnh Văn Đ Em; 01 (một) áo khoác màu nâu xám; 01 (một) áo thun nam tay ngắn màu xám đen có dòng chữ tiệm Đ1; 01 (một) quần thun ống dài màu đen và 01 (một) nón kết màu trắng có dòng chữ Yankees thu giữ của Nguyễn Thị C.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

8

4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

5. Về quyền, nghĩa vụ và thời hạn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND quận Thốt Nốt
  • - Công an quận Thốt Nốt;
  • - Cơ quan THA quận Thốt Nốt;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Thị Mộng Tuyền

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Các bị cáo Huỳnh Văn Đ và Huỳnh Văn Đ Em phạm tội “Cướp giật tài sản”. Xử phạt: - Bị cáo Huỳnh Văn Đ 03 (ba) năm tù. - Bị cáo Huỳnh Văn Đô E (03) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo Đ và Đô E tính từ ngày các bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 23/4/2024. Hình phạt bổ sung: Miễn cho các bị cáo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger