Hệ thống pháp luật

1

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỚN QUẢN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 73/2024/HS-ST

Ngày: 22 - 8 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Học

Các Hội thẩm nhân dân. 1. Ông Trần Trọng Vĩnh

2. Bà Phan Thị Vui

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2024/TLST-HS ngày 02/7/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-HS ngày 02/8/2024 đối với các bị cáo:

1. Mai Xuân Q; sinh năm 1990. Tại: tỉnh Đắk Lắk.

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 7/12.

Nơi thường trú và chỗ ở: Tổ D, khu phố F, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

Cha: Mai Xuân H (đã chết), Mẹ: Trần Thị Đ, sinh năm 1957, Bị cáo có 05 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất là bị cáo; Vợ: Thị Gái, sinh năm 1988; Bị cáo có 02 người con: Mai Quang M, sinh năm 2017 và Mai Thị Bích N, sinh năm 2023.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Ngày 22/01/2024 cùng đồng phạm có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra tại khu vực thuộc tổ A, ấp A, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước thì bị bắt quả tang và tạm giữ.

Đến ngày 30/01/2024 bị khởi tố và tạm giam cho đến nay.

2. Võ Văn S, sinh năm 1998. Tại: tỉnh Bình Phước.

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 8/12.

Nơi thường trú và chỗ ở: Tổ A, ấp A, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước.

2

Cha: Võ Văn H1, sinh năm 1972, Mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1976; Bị cáo có 03 anh em ruột, lớn nhất là bị can, nhỏ nhất sinh năm 2006; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Ngày 22/01/2024 cùng đồng phạm có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra tại khu vực thuộc tổ A, ấp A, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước thì bị bắt quả tang và tạm giữ.

Đến ngày 30/01/2024 bị khởi tố và tạm giam cho đến nay.

3. Đặng Xuân Ngọc P, sinh năm 1985. Tại: Thành phố Hồ Chí Minh.

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 12/12.

Nơi thường trú và chỗ ở: Tổ C, khu phố F, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

Cha: Đặng Xuân Q1, sinh năm 1955, Mẹ: Phùng Thị H2, sinh năm 1955; Vợ: Phạm Thị T1, sinh năm 1984 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 người con: Đặng Huyền T2, sinh năm 2008, Đặng Hoàng P1, sinh năm 2011.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 26/12/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Long (nay là thị xã B), tỉnh Bình Phước xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 135/2008/HSST. Hiện tại Đặng Xuân Ngọc P đã được xóa án tích theo quy định của pháp luật.

Ngày 22/01/2024 cùng đồng phạm có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra tại khu vực thuộc tổ A, ấp A, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước thì bị bắt quả tang và tạm giữ.

Đến ngày 30/01/2024 bị khởi tố và áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đặng Xuân Ngọc P: Bà Phùng Thị H2, sinh năm 1955; Nơi cư trú: Tổ C, khu phố F, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Đặng Xuân Ngọc P: Ông Hoàng Bình T3 – Luật sư, Công ty L và cộng sự, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Bình Phước (Có đơn yêu cầu vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào trưa ngày 22/01/2024, Mai Xuân QĐặng Xuân Ngọc P cùng nhau đi đến nhà của Võ Văn S tại tổ A, ấp A, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước để chơi. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày trong lúc ngồi nói chuyện với nhau thì S, QP nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng nên cùng nhau thống

3

nhất mỗi người góp số tiền 100.000 đồng để mua ma túy. Lúc này do S không có tiền nên Q đã đồng ý cho S mượn số tiền 100.000 đồng để góp cùng mua ma túy. Sau khi góp tiền xong thì Q sử dụng xe mô tô biển kiểm soát: 52Y3 – 1547 của P và chở P đi đến khu vực cổng sau của khu công nghiệp M thuộc phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước để mua 300.000 đồng ma túy của một người nam thanh niên tên D (không rõ lai lịch). Sau khi mua được ma túy, Q đưa đoạn ống hút nhựa đựng ma túy vừa mua được cho P cầm rồi điều khiển xe chở P về nhà S.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi QP về đến nhà của S thì bị lực lượng Công an xã Đ phối hợp với Công an huyện H đến kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong lòng bàn tay trái của P đang cầm nắm một đoạn ống hút nhựa màu hồng sọc trắng được hàn kín hai đầu đựng chất dạng tinh thể màu trắng bên trong (nghi là chất ma túy) nên Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Mai Xuân Q, Võ Văn S, Đặng xuân Ngọc P2. Tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với S, P2, Q đều cho kết quả dương tính (có sử dụng chất ma túy).

Quá trình điều tra, Mai Xuân Q, Võ Văn S, Đặng Xuân Ngọc P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Căn cứ Kết luận giám định số: 147/KL-KTHS ngày 29/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) bên trong 01 đoạn ống hút được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,1852 gam.
  • Chất màu nâu (ký hiệu M1) bám dính trong nỏ thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng do mẫu tồn tại ở dạng vết.

Ngày 01/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Quyết định trưng cầu giám định số: 573/QĐ Trưng cầu Viện Pháp y Tâm thần Trung ương B giám định tình trạng tâm thần đối với bị can Đặng Xuân Ngọc P.

Căn cứ Kết luận giám định pháp y tâm thần số: 318/KL-VPYTW ngày 16/5/2024 của Viện Pháp y Tâm thần Trung ương B1, kết luận:

  • Về Y học: Trước, trong, sau khi gây án: Đương sự bị Rối loạn loạn thần do sử dụng chất kích thích giai đoạn thuyên giảm (F15.5 - ICD.10).
  • Về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án và hiện nay: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu hồng sọc trắng được hàn kín hai đầu đựng chất dạng tinh thể màu trắng bên trong (nghi là chất ma túy);
  • 01 (một) nỏ thủy tinh có một đầu bầu tròn dài 7cm;

4

  • 01 (một) hộp quẹt gas nhãn hiệu Hoa Việt màu xanh;
  • 01 (một) xe môtô nhãn hiệu: FAIRY, kiểu dáng Super Dream, màu sơn: nâu, biển kiểm soát 52Y3-1547, số máy: VDP1P50FMG482088, số khung: VDPDCG084DP482088.

Xử lý vật chứng:

  • Đối với 0,1852 gam chất ma túy loại Methamphetamine, sau giám định còn lại 0,0948 gam, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
  • Đối với 01 nỏ thủy tinh được hoàn lại sau giám định và 01 hộp quẹt gas nhãn hiệu Hoa Việt màu xanh. Những đồ vật nêu trên không còn giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
  • Đối với xe mô tô nhãn hiệu FAIRY, màu nâu, biển kiểm soát: 52Y3-1547, số khung: VDPDCG08DP482088, số máy: VDP1P50FMG482088. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của Đặng Xuân Ngọc P. Vào ngày 22/01/2024 Đặng Xuân Ngọc P sử dụng xe mô tô nói trên cùng với Mai Xuân Q làm phương tiện đi mua ma túy về sử dụng. Tuy nhiên, qua tra cứu số khung, số máy có dấu hiệu bị đục, sửa nên cơ quan điều tra đã tách ra làm rõ sẽ xử lý sau, do đó Viện kiểm sát không đề cập đến.

Về vấn đề dân sự: Vụ án không phát sinh vấn đề dân sự.

Cáo trạng số 61/CT-VKS ngày 27/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố các bị cáo Mai Xuân Q, Võ Văn SĐặng Xuân N1 phi về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố bảo vệ quan điểm của bản cáo trạng, căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Mai Xuân Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt các bị cáo Mai Xuân QVõ Văn S mức án từ 01 (Một) năm đến 01(Một) năm 06 (S1) tháng tù.

  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm q, s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đặng Xuân Ngọc P mức án từ 01 (Một) năm đến 01(Một) năm 06 (S1) tháng tù.

  • Đề nghị xử lý vật chứng:

5

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên như đề nghị xử 1 vật chứng như nội dung bản cáo trạng.

Các vật chứng khác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử lý đúng quy định đề nghị không tiếp tục xử lý.

* Trách nhiệm dân sự: Không xảy ra.

Các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không tranh luận.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bị cáo và những người tham gia tố tụng. Các bị cáo không kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, các bị cáo Mai Xuân Q, Võ Văn SĐặng Xuân Ngọc P khai nhận:

Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 22/01/2024 Mai Xuân Q, Võ Văn S, Đặng Xuân Ngọc P cùng nhau mỗi người góp 100.000 đồng để đi mua 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng mang về mục đích để sử dụng.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi QP đi mua ma túy về đến nhà của S tại tổ A, ấp A, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước thì bị lực lượng Công an xã Đ phối hợp với Công an huyện H đến kiểm tra, phát hiện và thu giữ một đoạn ống hút nhựa màu hồng sọc trắng được hàn kín hai đầu đựng chất dạng tinh thể màu trắng bên trong là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,1852 gam nên Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Mai Xuân Q, Võ Văn S, Đặng xuân Ngọc P2.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, đồng thời là mầm mống của các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo là người đã thành niên và hoàn toàn nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên cần áp dụng một hình phạt nghiên khắc đối với các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn

6

đe, giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội sau này. Tuy nhiên, cần xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi áp dụng mức hình phạt cho các bị cáo. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hợp tác với các cơ quan tố tụng giải quyết vụ án nên được Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo khi quyết định hình phạt.

Đối với các bị cáo Mai Xuân QVõ Văn S khi phạm tội có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nên còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Đặng Xuân Ngọc P khi phạm tội là người có bệnh hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình nên còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở đó, Cáo trạng số 61/CT-VKS ngày 27/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố các bị cáo Mai Xuân Q, Võ Văn SĐặng Xuân Ngọc P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ và đề nghị áp dụng mức án nêu trên đối với các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật và tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Xử lý vật chứng vụ án:

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên đề nghị xử lý vật chứng vụ án như nội dung bản cáo trạng là phù hợp nên chấp nhận.

Các vật chứng khác sau khi xem xét, đánh giá tại phiên tòa xác định Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H quá trình điều tra đã xử lý đúng quy định không ai có khiếu nại hay ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không tiếp tục xử lý.

[5] Về vấn đề dân sự: Không có nên không đề cập đến.

[6] Về án phí: Các bị cáo Mai Xuân Q, Võ Văn SĐặng Xuân Ngọc P chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố: Các bị cáo Mai Xuân Q, Võ Văn SĐặng Xuân Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

7

Xử phạt bị cáo Mai Xuân Q mức án 01 (một) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày 22/01/2024.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Võ Văn S mức án 01 (một) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày 22/01/2024.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Mai Xuân Q và bị cáo Võ Văn S trong hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm q, s khoản 1Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Đặng Xuân Ngọc P mức án 01 (một) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày bắt bị cáo để đi thi hành án, được khấu trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2024 đến ngày 30/01/2024.

3. Về vật chứng vụ án:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu, tiêu hủy: Đối với 0,0948 gam chất ma túy loại Methamphetamine, còn lại sau giám định, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 nỏ thủy tinh được hoàn lại sau giám định và 01 hộp quẹt gas nhãn hiệu Hoa Việt màu xanh.

(Vật chứng theo như mô tả của biên bản giao nhận vật chứng số 0006013 ngày 25/7/2024 giữa cơ quan Hỗ trợ tư pháp và Thi hành án hình sự và chi Chi cục thi hành án dân sự huyện Hớn Quản).

4. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Các bị cáo Mai Xuân Q, Võ Văn SĐặng Xuân Ngọc P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bào chữa cho bị cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết theo qy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

8

  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Hớn Quản;
  • - Công an huyện Hớn Quản;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Hớn Quản;
  • - Bị cáo; đương sự
  • - Lưu: TA, HSVA.

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đình Học

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ok
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger