Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 73/2023/DS-PT

Ngày 21- 12 - 2023

Về “T/c quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Thương.

Các Thẩm phán:

Bà Lê Hoài Thủy.

Ông Lê Văn Luật.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Huệ- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Tố Ly- Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 56/2023/TLPT-DS ngày 17 tháng 10 năm 2023, về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2023/DSST ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2023/QĐ- PT ngày 09 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn T, địa chỉ: Khu phố A, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Lê V, địa chỉ: Khu phố A, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị B, địa chỉ: Khu phố A, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  4. Người kháng cáo: Ông Lê V là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Lê Văn T trình bày: Từ năm 1975, bố mẹ ông Lê Văn T là ông Lê Á và bà Phạm Thị B khai hoang thửa đất làm nhà và sinh sống tại Phường B (cũ) nay là khu phố A, Phường C, thị xã Q, đã đăng ký thửa đất vào Sổ mục kê địa chính thuộc thửa số 325, tờ bản đồ số 7, diện tích 615m² vào năm 1985. Sau khi ông Lê Á qua đời, năm 1994, bà B cho tặng thửa đất này cho ông T. Trước đây do vướng quy hoạch mở đường giao thông nên chưa làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được. Đến năm 2002, ông T có xây dựng nhà cấp 4 và sử dụng từ đó cho đến nay.

Diện tích đất của ông T đang sử dụng khoảng 91m², tại thửa số 80, tờ bản đồ 20, tại khu phố A, Phường C, thị xã Q, diện tích đất ông T đang sử dụng vướng quy hoạch mốc lộ giới đường B (nay là đường N) nên chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2014, ông T làm nhà ở theo mốc giới đã cắm của U (cũ); không ai tranh chấp gì cả. Khoảng trống từ nhà ông T đến ranh giới đất ông O thì ông V tự xây tường rào đã lấn chiếm đất ông T đang sử dụng là 5,5 m², cụ thể như trong đơn khởi kiện.

Năm 2021, quy hoạch mở đường Ngô Quyền đã ổn định, ông T xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Lê V không ký hộ liền kề, gây khó khăn cản trở làm phát sinh tranh chấp quyền sử dụng đất.

Ông Lê Văn T yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Lê V trả lại 5,5m² đất, cụ thể: Phía Bắc giáp đất ông O dài 1,38m; phía Đông giáp đất ông Lê V dài 8,13m và phía Tây giáp đất ông Lê Văn T đang sử dụng dài 7,72m.

Việc ông Lê V yêu cầu ông T trả lại cho ông là 35,5m² hoàn toàn không có căn cứ nên không chấp nhận.

Bị đơn ông Lê V trình bày: Nguồn gốc đất của bố mẹ ông V là ông Lê Ú và bà Nguyễn Thị L khai hoang, năm 1986 có đăng ký vào sổ mục kê địa chính tại thửa số 320, tờ bản đồ số 7, diện tích 775m². Bà Lê Thị M hộ liền kề lấn chiếm 129m², làm mới đường Đinh Tiên Hoàng gia đình ông hiến tặng khoảng 50m². Bố mẹ ông được cấp giấy quyền sử dụng đất với diện tích 539m² và tặng cho con là ông Lê V; số diện tích còn lại ông Lê Văn T mượn làm xưởng cưa xẻ gỗ và lấn chiếm, cụ thể:

  • Vị trí 1: Phía Nam giáp đất ông Lê V là 2,24m, phía Bắc giáp đất ông Lê Văn T là 4m, phía Đông giáp đất ông Lê V là 6,7m, phía Tây giáp đường N 6,66m. Với diện tích là 20,84m².
  • Vị trí 2: Phía Nam giáp đất ông Lê V là 0,2m, Phía Bắc giáp đất ông Nguyễn O1 là 2,5m, Phía Tây giáp đất ông Lê Văn T là 7m, Phía Đông giáp đất ông Lê V là 6,9m, Với diện tích là 9,38m².

Ông Lê V yêu cầu ông Lê Văn T trả lại cho gia đình ông là 30,22m²

Sau khi xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc lại diện tích đất đang tranh chấp ông V yêu cầu buộc ông Lê Văn T trả lại diện tích 35,5m² cụ thể: Phần diện tích đất hình tam giác có các cạnh (phần E theo bản đồ). Tổng diện tích: 9,0m², hiện ông Lê Văn T đang sử dụng, làm nhà tắm, phòng vệ sinh. Phần diện tích đất hình thang có các cạnh (phần F theo bản đồ). Tổng diện tích: 26,5m², hiện ông Lê Văn T đang sử dụng, làm chái che.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị B trình bày: Sau giải phóng, năm 1975 vợ chồng bà khai hoang mảnh đất, nay thuộc khu phố A, Phường C, thị xã Q. Năm 1986, đăng ký thửa đất vào Sổ mục kê địa chính. Gia đình bà có hiến tặng đất cho Nhà nước mở đường Ngô Q, thị xã Q nên mảnh vườn của bà chia thành hai mảnh, cách nhau con đường Ngô Quyền. Mảnh vườn phía Tây, khoảng 250m² bà làm nhà ở cùng con trai út Lê Xuân D. Mảnh vườn phía Đông khoảng 100m², năm 2002 bà tặng cho riêng con trai Lê Văn T để làm nhà ở, ngoài ra không tặng cho ai nữa. Bà hoàn toàn không mượn đất của ông Lê Ú (bố ông V) vì đất bà cho con Lê Văn T khoảng 100m² đủ để làm xưởng cưa gỗ. Nay bà già yếu, bị gãy chân, tê liệt không đi lại được, chỉ ngồi một chỗ. Nên xin vắng mặt tất cả các phiên làm việc, phiên tòa tại Toà án.

Với những nội dung trên,

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2023/DSST ngày 24 tháng 8 năm 2023

của Toà án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị đã quyết định:

  1. Căn cứ vào các Điều 26, 39, 147, 157 và Điều 200 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 163, 164, 166 và 175 của Bộ luật dân sự; Khoản 5 Điều 166, khoản 1 Điều 170 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2013, tuyên xử:
  2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Văn T.
    • - Buộc bị đơn ông Lê V phải trả lại cho ông Lê Văn T diện tích đất là 5,5m² cụ thể: Phía Bắc giáp đất ông O1: 1,39m; Phía Tây giáp tường rào ông V xây: 7,13m; Phía Đông giáp đất ông V đang sử dụng: 8,13m.
    • - Buộc ông Lê V phải tháo dỡ tường rào tự xây bằng bờ lô dài 6,9m, cao 3m, chưa tô, trên đất của ông T, kể từ đất ông O1 đến tường nhà của ông Lê Văn T.
  3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Lê V:
    • - Buộc ông Lê Văn T trả lại cho ông Lê V diện tích 1.0m², cụ thể: có các cạnh: 0,66m + 5,78m + 5,23m + 0,69m + 0,36m dọc tường phía Đông mái chái lợp tôn, tiếp giáp với đất của ông Lê V.
    • - Buộc ông Lê Văn T tháo dỡ tường mái chái tiếp xúc với mặt bằng đất xây bờ lô cao 1,5m, phía trên tráp tôn kẽm, gắn liền với nhà ở ông T.
  4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lê V: Yêu cầu ông Lê Văn T trả lại diện tích đất:
    • 4.1. Phần diện tích đất có hình tam giác có các cạnh (phần E theo bản đồ): Phía Bắc giáp đất ông O1: 2,52 m; Phía Tây giáp đất ông T đang sử dụng: 6,63m; Phía Đông giáp tường rào ông V xây: 7,13m, tường rào ông V tự xây kể từ đất ông O1 dài 6,9m, cao 3m bằng bờ lô, không tô trát. Tổng diện tích: 9,0 m²,
    • 4.2. Phần diện tích đất là hình thang có các cạnh (phần F theo bản đồ): Phía Bắc giáp đất ông T: 4,77m; Phía Nam Giáp đất ông V: 2,28m và lòng lề đường Ngô Quyền: 0,86m; Phía Tây giáp đường Ngô quyền: 6,58m; Phía Đông giáp đất ông V: 5,78m; Tổng diện tích: 26,5 m², hiện ông Lê Văn T đang sử dụng, làm chái che, trả lại cho ông Lê V 1.0 m² đất nói trên, chỉ còn lại 25,5 m²).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 18/9/2023, ông Lê V kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lê Văn T trả lại cho bị đơn 35,5m² đất.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn không rút kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Các Thẩm phán, Thư ký cấp phúc thẩm chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự đảm bảo quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Buộc bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Lê Văn T khởi kiện yêu cầu ông Lê V trả lại diện tích đất lấn chiếm, bị đơn ông Lê V có phản tố yêu cầu ông T trả lại diện tích đất mà ông cho rằng ông T lấn chiếm. Đối tượng tranh chấp là bất động sản tại thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị căn cứ quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ “Tranh chấp quyền sử dụng đất” để giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

[1.2] Vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị B được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai và có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt họ.

[2]. Xét nội dung kháng cáo:

[2.1] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất ông Lê Văn T: Năm 1975, bố mẹ ông Lê Văn T là ông Lê Á (chết năm 1990) và bà Phạm Thị B khai hoang, làm nhà ở và đăng ký trong hồ sơ 299/TTg tại thửa số 325, tờ bản đồ số 7, diện tích 615m². Năm 1995, U (cũ) giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Lê Ú (bố ông V) và bà Phạm Thị B (Mẹ của ông T). Hai gia đình thống nhất ranh giới, được U (cũ) đã cắm mốc giới cho diện tích đất hai gia đình sử dụng ổn định. Năm 2002, bà B tặng cho ông T mảnh vườn khoảng 100m² để làm xưởng cưa và nhà ở. Năm 2013, Sổ mục kê Phường C lập thì thửa đất thuộc thửa số 80, tờ bản đồ số 20, diện tích 84m², quy chủ cho ông Lê Văn T, do vướng quy hoạch mở đường nên ông T chưa làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, năm 2021 ông T làm hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ liền kề ông Lê V không đồng ý ký hộ liền kề.

[2.2] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất ông Lê V: Thửa đất hiện ông V đang sử dụng do ông Lê Ú (bố ông V) khai hoang, đăng ký trong hồ sơ 299/TTg tại thửa số 326, tờ bản đồ số 7, diện tích 775m². Ngày 14/01/2014, ông Lê Ú, bà Nguyễn Thị L được UBND thị xã Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI835812 tại thửa số 105, tờ bản đồ số 20, với diện tích 539,0 m². Ngày 23/01/2014, ông Lê Ú, bà Nguyễn Thị L tặng cho ông Lê V được chỉnh lý trang 4 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông V sử dụng toàn bộ diện tích này từ đó cho đến nay.

Đối với diện tích có biến động, Văn phòng đăng ký đất đai thị xã Q có công văn trả lời cho Tòa án cấp sơ thẩm: Bản đồ 299 được nghiệm thu năm 1987 đến khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2014 (gần 30 năm) do đó có biến động về diện tích. Hiện nay, Phòng T1 không lưu trữ tờ bản đồ số 7 (bản đồ địa chính năm 1987) do đó không có cơ sở để đối chiếu xác định đất biến động.

[2.3] Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ:

  • + Thửa đất ông V được cấp Giấy chứng nhận 539m², hiện trạng sử dụng 543,5m². Trong đó có 5,5m² nằm ngoài Giấy chứng nhận liền kề ranh giới của ông T, trên phần đất này không có cây cối, có đoạn tường rào xây từ năm 2018.
  • + Diện tích đất ông V tranh chấp với ông T: có 9m² là nhà vệ sinh của ông T; 26,5m² mái che lợp tôn nhà ông T (nằm trong thửa đất ông T được quy chủ). Có 01m² ông T đang sử dụng nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông V.

[2.4] Trên cơ sở nguồn gốc đất, hiện trạng sử dụng thì thửa đất của ông T và ông V đều được bố, mẹ kê khai lần đầu vào Sổ địa chính năm 1985. Năm 2002, thửa đất của mẹ ông T (bà B) cho ông T và ông T có Đơn xin làm nhà cưa xẻ gỗ vào ngày 05/3/2002, đã được U (cũ), thị xã Q đồng ý; năm 2013 ông T được UBND Phường 3 quy chủ thì thửa đất thuộc thửa số 80, tờ bản đồ số 20. Gia đình ông T sử dụng ổn định liên tục từ khi được bố mẹ tặng cho cho đến nay.

Thửa đất của ông V, từ năm 2014 được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Ú, bà Nguyễn Thị L (bố mẹ ông V) đã được chỉnh lý trang 4 cho ông V, sơ đồ kèm theo giấy chứng nhận có cạnh phía Tây giáp đường N và đất hộ Lê Văn T. Theo kết quả thẩm định thì ông V sử dụng cạnh phía Tây có 5,5m² nằm trong phần đất quy chủ cho ông T, nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho ông V, ông V xây tường rào năm 2018 (sau khi được cấp Giấy). So với diện tích đất ông V được cấp chỉ thiếu 01m² ông T đang sử dụng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông V trả lại cho ông T 5,5m² đất và buộc ông T trả lại cho ông V 01m² đất, đồng thời không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông V là có căn cứ.

[3] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử chấp thuận ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn ông Lê Văn Tình tự n chịu và đã nộp đủ.

[5] Về án phí: Kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê V; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; Điều 147; Điều 148 và Điều 200 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 166; Điều 170 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ khoản 1 Điều 26; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

X:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn T. Buộc ông Lê V có nghĩa vụ tháo dỡ tài sản, dì dời cây cối để trả lại cho ông Lê Văn T diện tích đất 5,5m², có vị trí: Phía Bắc giáp đất ông Nguyễn Văn O2 có cạnh 1,39m; phía Tây giáp đất ông Lê Văn T có cạnh 7,13m và phía Đông giáp đất ông Lê V có cạnh 8,13m (Ký hiệu điểm B trong Bản đồ).
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Lê V. Buộc ông Lê Văn T có nghĩa vụ tháo dỡ tài sản, di dời cây cối để trả cho ông Lê V diện tích đất 1.0 m², có vị trí: phía Bắc có cạnh 0,69m; phía Nam giáp đất ông Lê V có cạnh 0,36m; phía Tây giáp đất ông Lê Văn T có cạnh 5,78m và phía Đông giáp đất ông Lê V có cạnh 0,66m + 5,23m (Ký hiệu điểm C trong Bản đồ).

    (Kèm theo Bản đồ hiện trạng thửa đất do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Q chi nhánh thị xã Q thực hiện ngày 09/6/2023).

  3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lê V yêu cầu ông Lê Văn T trả phần diện tích đất 34,5m².
  4. Về án phí:
    • - Án phí dân sự sơ thẩm:
      • + Ông Lê Văn T phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000115 ngày 14/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị.
      • + Ông Lê V phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000143 ngày 16/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị.
    • - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê V phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000178 ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - TAND TX. Quảng Trị;
  • - CC THADS TX. Quảng Trị;
  • - VKSND TX Quảng Trị;
  • - Các đương sự;
  • - Phòng KTNV;
  • - TỔ HCTP;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Kim Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2023/DS-PT ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 73/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên đơn bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger