Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẢI HẬU

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 73/2024/HS-ST

Ngày: 21-8-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Việt Hùng;

Ông Lưu Văn Đê.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Én- Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2024/TLST- HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 08 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Vũ Hoàng Á, sinh năm 2000. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nữ; Nơi sinh: Thị trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Tổ dân phố số A, thị trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Đoàn, Đảng: Không; Trình độ học vấn: 12/12. Con ông: Vũ Hoàng G, sinh năm 1975; Con bà: Trần Thị H, sinh năm 1975, hiện đều sinh sống tại tổ dân phố số A, thị trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định.. Chồng: Nguyễn Phan T, sinh năm 1995, hiện trú tại tổ dân phố số A, thị trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định. Bị cáo có 2 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 25/6/2024 đến nay. Có mặt.

2. Đỗ Thành Đ, sinh năm 2000, tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Nơi sinh: Xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Đoàn, Đảng: Không; Trình độ học vấn: 09/12. Con ông: Đỗ Ngọc T1, sinh năm 1958 (đã chết); Con bà: Bùi Thị M, sinh năm 1957, hiện trú tại xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Vợ: Trần Thị Mỹ L, sinh năm 2003, hiện trú tại xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Bị cáo có 1 con sinh năm 2020.Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/4/2024 đến 03/5/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và bị bắt tạm giam từ ngày 27/6/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1993; địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Phan T, sinh năm 1995;
  2. Chị Nguyễn Lê Quỳnh T3, sinh năm 2003;
  3. Anh Vũ Hoàng A, sinh năm 1990;
  4. Chị Trần Thị V, sinh năm 1994;
  5. Anh Phạm Đình V1, sinh năm 2003;
  6. Chị Đỗ Huyền T4, sinh năm 1977;
  7. Ông Vũ Ngọc T5, sinh năm 1964;
  8. Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1959;

(Tất cả người làm chứng vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 7/2023, chị Nguyễn Thị T2 nhiều lần vay tiền của Vũ Hoàng Á để kinh doanh, chi tiêu cá nhân và tham gia hội tiền do Á làm chủ. Sau khi đòi nợ nhiều lần nhưng chị T2 không trả, Vũ Hoàng Á sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Huawei nova 2i, màu đen, lắp sim số thuê bao 033333221, đăng nhập vào Facebook của mình tên “Ánh dâu” đăng tải hình ảnh chị T2, con chị T2 kèm thông tin cá nhân tên tuổi địa chỉ, tên trường tiểu học xã H nơi chị T2 đang giảng dạy với nội dung nói chị T2 lừa đảo vay tiền không trả để những người quen của chị T2 đọc biết, mục đích gây sức ép để chị T2 phải trả nợ. Ngày 18/10/2023 Vũ Hoàng Á yêu cầu chị T2 đến cửa hàng bán quần áo của Á tại T 01 giấy nhận nợ số tiền vay gốc là 195.000.000 đồng và 239.000.000 đồng tiền hội. Sau khi chị T2 viết giấy nhận nợ, Vũ Hoàng Á liên tục gọi điện chửi, đe dọa chị T2 yêu cầu trả nợ, thì chị T2 xin khất trả dần hàng tháng. Thấy chị T2 không trả nợ, Vũ Hoàng Á tiếp tục nhắn tin chửi, đe dọa để chị T2 trả nợ với nội dung “Hôm nay là gặp mày, mai là tao vào gặp bố mẹ mày, con mày, mày làm như vậy thất đức con cái mày gánh nghiệp...”. Sau đó, Vũ Hoàng Á nhờ Phạm Văn D, sinh năm 1986, ở tổ dân phố số G, T nợ giúp. Cùng thời gian đó Đỗ Thành Đ đến quán xăm hình của anh Nguyễn Phan T, sinh năm 1995 (là chồng Á) tại tổ dân phố số A, T, anh T kể chuyện việc chị T2 nợ tiền Á không trả và nhờ Đ đòi nợ giúp, Đ nhất trí. Sau đó, Đ trao đổi các thông tin liên quan với Á để đòi nợ. Vũ Hoàng Á chụp giấy vay nợ, ảnh, thẻ căn cước cùng số điện thoại của chị T2 gửi cho D và Đ. Đ sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 ProMax, vỏ màu xanh, lắp sim số thuê bao 0848.444.111 gọi nhắn tin vào số điện thoại 0911.191.xxx của chị T2, D và Đ đến trường tiểu học xã H, huyện H nơi chị T2 công tác để đòi nợ, chị T2 nói “Nợ ai thì trả người đó”, D nói với chị T2 “Giờ nợ nần với Á giải quyết thế nào”, chị T2 nói “Giờ khó khăn nợ nần em vẫn trả và trả dần, nợ ai em trả người đó”, D nói “Tiền của nó cũng như của tao”, chị T2 nói tiếp “Giờ em nợ nhiều người một lúc em không trả hết được, hàng tháng em sẽ trả dần”, D nói “Vay thì phải trả hết, vay thì phải trả hết không trả lẻ, không tao có cách khác, trước mắt thế nào” chị T2 hứa một tuần sau trả 2.000.000 đồng. Khoảng 1 tuần sau chị T2 chuyển khoản trả nợ cho Á số tiền 2.000.000 đồng. Sau đó, một số lần Đ một mình đến Trường tiểu học xã H tìm gặp chị T2 nhưng chị T2 không gặp, Đ đứng ngoài gọi điện, nhắn tin chửi chị T2, mục đích gây sức ép khiến chị T2 sợ mà phải trả nợ cho Á.

Trưa ngày 06/01/2024, Vũ Hoàng Á cùng Phạm Văn D, Đỗ Thành Đ và Nguyễn Lê Quỳnh T3 gặp chị T2 ở Trường tiểu học xã H, yêu cầu chị T2 về quán nước mía của bà Phạm Thị L1, ở tổ dân phố số D, thị trấn C, huyện H để giải quyết việc vay mượn tiền. Tại quán nước, chị T2 nói với Á “Chị nợ em là sai, chị xin khất em cho chị làm trả dần”, Vũ Hoàng Á nói “Hôm nay có ba mặt một lời, tao nói cho mặt mày biết từ lần sau anh D và Đ sẽ làm việc với mày lấy tiền nợ, có gì mày cứ qua ông ý để cho mày khỏi cãi lấy lý do anh ý không nợ mày không có quyền đòi mày” và “Từ giờ đến tết mày phải trả tao tiền hội là 239.000.000 đồng”, chị T2 nói “Giờ chị khó khăn, chị không thể trả hết được”, Á không đồng ý, chị T2 nói “Bây giờ điều kiện chỉ có vậy thôi”. Ánh yêu cầu chị T2 ít nhất phải trả 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng/01 tháng, D và Đ hỏi chị T2 “Lương mày đi làm được bao nhiêu”, chị T2 nói “Tiền lương em được 5.470.000 đồng”, Đ nói “Mày đi dậy bao nhiêu năm mà chỉ được bằng đấy”. D nói với chị T2 “Hôm sau lên gặp Hiệu trưởng nhà trường để chị T2 trao đổi để nhà trường trả tiền lương của chị T2 trực tiếp cho Vũ Hoàng Á để trừ nợ”, chị T2 không đồng ý. Lúc này chị T2 lấy điện thoại định gọi cho người thân thì Đ nói “Mày thích thách đố tao không, ở đất này tao không vướng, mày thích cò quay à”. Đ rút mũ bảo hiểm loại mũ đội nửa đầu của chị T2 đang đội trên đầu giơ lên đập 2 - 3 cái vào đầu và vai chị T2. Chị T2 khóc hét lên “Tại sao em đánh chị, chị có nợ em đâu”, Vũ Hoàng Á .nói “Tao đánh mày cho nó bẩn tay”, chị T2 hứa từ giờ đến tết sẽ bớt ra một khoản lương để trả Á, Đ yêu cầu khi có lương phải trả cho Á số tiền 5.000.000 đồng, sau đó Đ, D, Á, T3 đi về còn chị T2 ngồi lại khoảng 10 phút thì ra về (thời điểm xảy ra trong quán chỉ có 05 người).

Ngày 05/02/2024, Đ tiếp tục sử dụng số điện thoại 0848.444.xxx nhắn tin vào số điện thoại 0911.191.xxx của chị T2 chửi đe dọa, nội dung “Cái địt mẹ mày lấy lương mày lại mất tích à bố con lợn”. Cùng ngày, chị T2 chuyển khoản trả nợ cho Á số tiền 1.550.000 đồng. Ngày 06/02/2024 Đ tiếp tục nhắn tin chửi đe dọa “Mày thích ăn cơm hay ăn cứt, lồn mẹ mày, tao cho mày từ giờ đến tối gọi lại cho bố. Mày rõ chưa. Đừng để bố vào tận nhà mày đá tung mặt mày ra. Tao khâu mõm. Loại con chó. Mày tốt nhất mày đừng bước ra trường dạy nữa. Mày thách thức ai mày thách. Gặp tao tao địt vướng đâu. Lồn mẹ mày luôn”. Trong các ngày 07 và 08/02/2024; các ngày 06, 12 và 19/3/2024 Đ tiếp tục nhắn tin chửi, đe dọa, trong đó có nội dung “Làm đéo có chuyện chuyển 3.450.000đ, tao cho mày 5p để chuyển tao không nói nhiều, mày cứ thích dắt tao đi chơi vậy nhỉ. Tầm này bố mày nói thẳng vào mặt mày. Bố mày chơi với mày đến cùng. Địt mẹ gặp đâu bố mày cho mày nhục ở đấy. Tao nói nhanh tao địt vướng gì đâu nên đừng hù”, chị T2 lo sợ nên đã chuyển khoản trả cho Á số tiền 1.450.000 đồng và ngày 15/3/2024 chị T2 tiếp tục chuyển khoản trả cho Á số tiền 500.000 đồng.

Ngày 04/4/2024, Vũ Hoàng Á nhắn tin cho Đ biết việc chị T2 chưa trả nợ như đã cam kết và bảo Đ “Mày gọi cho nó xem, nó lại dắt tao đi”. Đ hiểu Á bảo Đ liên hệ với chị T2 để đòi tiền. Ngày 4/4/2024 và ngày 05/4/2024, Đ nhiều lần gọi điện thoại cho chị T2 để đòi nợ nhưng chị T2 không nghe máy, Đ nhắn tin đe dọa “còn m còn t. Mày không gãy tay gãy chân thì mõm m không còn răng ăn cơm".

Khoảng 16 giờ 45 ngày 10/4/2024 Đ cùng Phạm Đình V1, sinh năm 2003, ở thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định đến Trường tiểu học xã H để gặp chị T2. Thời điểm này trường đã tan học nhưng còn một số lớp vẫn đang học, chị T2 đang dạy học trong lớp 5B. Khi lên đến khu vực ban công trước phòng học lớp 5B ở tầng 2, Đ nhìn thấy cửa phòng đóng kín nên dùng chân phải đạp mạnh vào cánh cửa lớp và dùng tay kéo cửa lớp ra thấy chị T2 đang đứng trên bục giảng dạy môn toán, phía dưới có 40 học sinh đang trật tự ngồi học. Đ chửi chị T2 “Địt mẹ mày ra đây nói chuyện xem nào? Tiền nong làm sao đây đừng để tao vào lớp lôi ra”. Lúc này Văn đứng ở hành lang trước cửa lớp 5C cách lớp 5B khoảng 15m. Đ cầm chiếc bật lửa gas ném về phía chị T2 đang đứng nhưng không trúng. Chị T2 vẫn quay xuống học sinh, nói “Các em tập trung vào học không để ý bên ngoài” và tiếp tục cầm phấn viết lên bảng, Đ đứng ngoài cửa tiếp tục chửi “Địt mẹ mày, mùng 8 mày lấy lương rồi mà nay mùng 10 mày bảo chưa nhận, mày không chuyển”, “Địt mẹ mày đừng để tao vào lớp lôi mày ra”, “Địt mẹ mày lấy lương rồi sao mày bảo chưa lấy, mày thích văn vở không”. Thấy Đ chửi tục làm ảnh hưởng đến các em học sinh gây ảnh hưởng đến tiết học, chị T2 dặn học sinh trong lớp “Các em tập trung vào trong lớp học đi không để ý bên ngoài” và trả lời Đ “Tao không nợ chúng mày”. Đợi chị T2 viết bảng xong, Đ vào lớp khu vực bục giảng dùng tay phải cầm cổ tay trái của chị T2 kéo ra cửa và chửi “Địt mẹ mày thích thái độ không” nhưng chị T2 không ra. Khoảng 01 phút sau, lúc đó chị T2 đang đứng gần bàn đầu lớp học, trên tay trái chị T2 đang cầm thước gỗ kích thước (20x7x0,3)cm, Đ quay vào lớp đi đến phía trước chị T2 thì chị T2 giơ thước gỗ lên vụt vào lưng Đ 02 cái, Đ dùng tay phải giật lấy thước gỗ và vụt vào tay phải chị T2 01 cái và cầm mũ cối đập liên tiếp 3 cái vào đầu và lưng, tay trái của chị T2 khiến chị T2 ngã vào bàn học sinh. Đ dùng mũ cối đập tiếp về phía chị T2 nhưng trượt trúng vào đầu cháu Phạm Nguyễn Bảo Đ1 đang ngồi bàn thứ hai, dãy thứ ba từ ngoài vào, vừa đánh Đ vừa chửi “Địt mẹ mày đánh ai”. Khi thấy chị T2 bị đánh học sinh bàn đầu sợ đứng dậy chạy về phía cuối lớp đứng, làm lớp học phải dừng lại gây tâm lý hoang mang cho các cháu học sinh. Lúc này, V1 từ ngoài hang lang chạy vào kéo Đ đi ra ngoài, khi ra ngoài Đ quay đầu lại nói “Tý mày về tao đợi mày ở cổng trường”, sau đó V1 chở Đ về nhà. Chị T2 ổn định lớp học, cho các cháu học sinh nghỉ rồi cô trò đi về nhà. Quá trình điều tra, Đỗ Thành Đ và Vũ Hoàng Á đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, khi phạm tội Vũ Hoàng Á đang mang thai.

Đỗ Thành Đ có hành vi đánh chị T2 vào ngày 06/01/2024 và 10/4/2024; đánh cháu Phạm Nguyễn Bảo Đ1 vào ngày 10/4/2024 nhưng chị T2, cháu Đ1 chỉ bị đau phần mềm không phải đi điều trị tại cơ sở y tế nào nên không có yêu cầu, đề nghị gì về phần dân sự.

Cáo trạng số 68/CT-VKS-HH 31-07-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố các bị cáo Vũ Hoàng Á về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Đỗ Thành Đ về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 170 và khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • Các bị cáo thành khẩn khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án đã nêu trên.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
  • * Tuyên bố các bị cáo: Vũ Hoàng Á phạm tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Đỗ Thành Đ phạm các tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.

- Áp dụng khoản 1 Điều 170, các điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Hoàng Á, đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Thành Đ đề nghị xử phạt bị cáo Đ từ 12 đến 15 tháng tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Thành Đ đề nghị xử phạt bị cáo Đ từ 05 đến 08 tháng tù.

- Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội từ 17 đến 23 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/06/2024. (trừ đi số ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2024 đến 03/5/2024).

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

Tịch thu tiêu hủy: 01 sim số thuê bao 0333333221; 01 mũ cối màu xanh, mặt trong mũ có chữ dập nổi “Trung Đức” là vật bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, vỏ màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei nova 2i, màu đen các bị cáo dùng liên lạc phạm tội và số tiền 5.450.000 đồng.

Chiếc bật lửa gas màu đỏ Đ dùng ném chị T2 và chiếc thước gỗ chị T2 dùng đánh bị cáo Đ vào ngày 10/4/2024 tại trường Tiểu học xã H, huyện H Cơ quan điều tra tổ chức truy tìm nhưng không thấy nên không có căn cứ để xử lý.

Về phần dân sự: Đỗ Thành Đ có hành vi đánh chị T2 vào ngày 06/01/2024 và 10/4/2024; đánh cháu Phạm Nguyễn Bảo Đ1 vào ngày 10/4/2024 nhưng chị T2, cháu Đ1 chỉ bị đau phần mềm không phải đi điều trị tại cơ sở y tế nào nên không có yêu cầu, đề nghị gì về phần dân sự nên không xem xét giải quyết.

Các vấn đề khác đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Phần tranh luận: Các bị cáo, đại diện viện kiểm sát đều không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đều thừa nhận đã phạm tội, ăn năn hối cải về hành vi của bản thân và hứa sửa chữa lỗi lầm; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Chị Nguyễn Thị T2 nợ tiền vay và tiền hội của Vũ Hoàng Á với số tiền 434.000.000 đồng. Do đòi nhiều lần chị T2 không trả nên Á đã đăng tải hình ảnh của chị T2, con chị T2 kèm thông tin cá nhân lên trang Facebook cá nhân của Á nói chị T2 lừa đảo vay tiền không trả để gây sức ép và nhờ Đỗ Thành Đ đòi tiền chị T2. Sau khi được nhờ đòi nợ, từ đầu tháng 01/2024 đến tháng 4/2024, Đ đã gặp chị T2 đe dọa và nhiều lần gọi điện, nhắn tin chửi, đe dọa mục đích để chị T2 phải trả nợ cho Á, làm chị T2 lo sợ đã chuyển khoản trả cho Á tổng số tiền 5.450.000 đồng.

Ngoài ra, khoảng 17 giờ ngày 10/4/2024, Đỗ Thành Đ đã đến lớp 5B, trường tiểu học xã H, huyện H, tỉnh Nam Định, nơi chị T2 giảng dạy có hành vi chửi bới, ném bật lửa gas vào trong lớp học, dùng mũ cối đánh chị Nguyễn Thị T2 với mục đích đòi nợ, làm gián đoạn việc học tập của các cháu học sinh lớp 5B, trường tiều học xã H và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Hoàng Á đã phạm vào tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự; Hành vi của bị cáo Đỗ Thành Đ phạm vào tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 170 và khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng số 68/CT-VKS-HH ngày 31-7-2024 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Hành vi cưỡng đoạt tài sản của các bị cáo Á, Đ là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu, sức khỏe của người khác, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân. Hành vi gây rối trật tự công cộng của bị cáo Đ đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó cần bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hình sự để răn đe, giáo dục các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Về vị trí, vai trò của các bị cáo: Đối với tội cưỡng đoạt tài sản mà bị cáo Á, Đ đã thực hiện đây là vụ án đồng phạm giản đơn; Vũ Hoàng Á là người khởi xướng, nhờ bị cáo Đ nhắn tin chửi, đe dọa chị T2 mục đích để chị T2 trả nợ tiền vay nên giữ vai trò số 1; Đỗ Thành Đ thực hành tích cực trực tiếp đánh, nhắn tin chửi đe dọa chị T2 để đòi nợ cho Á nên giữ vai trò số 2 trong vụ án.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Trong vụ án này các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đỗ Thành Đ có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình và đang nuôi con còn nhỏ được chính quyền địa phương xác nhận, tại phiên tòa bị hại có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, khi phạm tội Vũ Hoàng Á đang mang thai cho nên bị cáo Đ được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, bị cáo Á được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo Á lần đầu phạm tội, là phụ nữ đang mang thai có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng Điều 65 BLHS không cần thiết cách ly các bị báo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú quản lý giáo dục cũng đạt được mục đích của hình phạt thể hiện sự khoan hồng của Đảng và nhà nước ta trong chính sách Hình sự.

[6] Về phần dân sự: Đỗ Thành Đ có hành vi đánh chị T2 vào ngày 06/01/2024 và 10/4/2024; đánh cháu Phạm Nguyễn Bảo Đ1 vào ngày 10/4/2024 nhưng chị T2, cháu Đ1 chỉ bị đau phần mềm không phải đi điều trị tại cơ sở y tế nào nên không có yêu cầu, đề nghị gì về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

Đối với 01 mũ cối màu xanh, mặt trong mũ có chữ dập nổi “Trung Đức”; 01 sim số thuê bao 0333333221 là vật chứng bị cáo dùng vào việc phạm tội hết giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, vỏ màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei nova 2i, màu đen các bị cáo dùng liên lạc phạm tội và số tiền 5.450.000 đồng bị do bị hại không đề nghị nhận lại nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước;

Chiếc bật lửa gas màu đỏ Đ dùng ném chị T2 và chiếc thước gỗ chị T2 dùng đánh bị cáo Đ vào ngày 10/4/2024 tại trường Tiểu học xã H, huyện H Cơ quan điều tra tổ chức truy tìm nhưng không thấy nên không có căn cứ để xử lý.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[9] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Hoàng Á phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Bị cáo Đỗ Thành Đ phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  2. Về hình phạt:
    1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 170; điểm n, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Hoàng Á; Xử phạt bị cáo Á 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    2. Giao bị cáo Vũ Hoàng Á cho UBND thị trấn C trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì có thể bị buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    3. Căn cứ: Khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Thành Đ. Xử phạt bị cáo Đ 15 tháng tù.
    4. - Căn cứ: Khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Thành Đ. Xử phạt bị cáo Đ 06 tháng tù.

      - Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 21 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/06/2024. (Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/4/2024 đến 03/5/2024).

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  4. Tịch thu tiêu hủy: 01 sim số thuê bao 0333333221; 01 mũ cối màu xanh, mặt trong mũ có chữ dập nổi “Trung Đức” là vật bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

    Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, vỏ màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei nova 2i, màu đen các bị cáo dùng liên lạc phạm tội và số tiền 5.450.000 đồng.

    (Vật chứng được mô tả trong Biên bản giao vật chứng ngày 19-8-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu).

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc các bị cáo Vũ Hoàng Á, Đỗ Thành Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo:
  7. Các bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Hải Hậu;
  • - Công an huyện Hải Hậu;
  • - Chi cục THADS Hải Hậu;
  • - UBND TT Cồn;
  • - UBND xã Hải Tây;
  • - THAHS;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về vụ án hình sự sơ thẩm về tội cưỡng đoạt tài sản và gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Cưỡng đoạt tài sản và Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: KẾT TỘI CÁC BỊ CÁO
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger