|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 73/2024/DS-ST
Ngày: 21/6/2024
V/v tranh chấp “HĐ vay, HĐ thế chấp tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trịnh Văn Bé, ông Lê Đức Thụy
- Thư ký phiên tòa: ông Quách Thuận An, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Phước Lợi, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 163/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 284/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân M (viết tắt Quỹ tín dụng M), địa chỉ: số A T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
Ông Nguyễn Thụy H, sinh năm 1985, địa chỉ: số A phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (theo giấy ủy quyền ngày 13/3/2024) (có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn:
Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1950, cư trú: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
Bà Võ Kim Ử, sinh năm 1953, cư trú: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1961, cư trú: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Anh Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1990, cư trú: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 13/3/2024, đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Thụy H trình bày:
Ngày 15 tháng 6 năm 2022 Quỹ tín dụng nhân dân M (gọi tắt là Quỹ tín dụng M) có cho ông Nguyễn Ngọc Q và bà Võ Kim Ử vay số tiền 100.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số DS1800855/HĐTD. Sau khi vay ông Q, bà Ử không trả lãi nên vi phạm hợp đồng. Khi vay, ông Q, bà Ử có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TT1804411/HĐTD ngày 25/02/2020 thế chấp quyền sử dụng đất số vào sổ 05153QSDĐ/mB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn Ngọc Q, bà Võ Kim Ử vào ngày 04/6/2004 diện tích 2835,30m², đất tọa lạc ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Nay Quỹ tín dụng M yêu cầu ông Nguyễn Ngọc Q, bà Võ Kim Ử trả số tiền 128.412.000 đồng trong đó vốn 100.000.000 đồng, lãi trong hạn 10.800.000 đồng, lãi quá hạn 16.511.000 đồng và lãi chậm trả lãi vay 1.101.000 đồng (tạm tính đến ngày 21/6/2024) theo hợp đồng tín dụng số DS1800855/HĐTD ngày 15/6/2022, tiếp tục tính lãi suất quá hạn từ ngày 22/6/2024 cho đến khi ông Q, bà Ử trả hết nợ và duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TT1804411/HĐTD ngày 25/02/2020 để đảm bảo quyền lợi cho Quỹ tín dụng M.
Bị đơn ông Nguyễn Ngọc Q trình bày:
Vào ngày 15 tháng 6 năm 2022 vợ chồng ông có vay của Quỹ tín dụng Mỹ B số tiền 100.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số DS1800855. Khi vay vợ chồng ông có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TT1804411/HĐTD ngày 25/02/2020 thế chấp quyền sử dụng đất số vào sổ 05153QSDĐ/mB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông và bà Võ Kim Ử vào ngày 04/6/2004 diện tích 2835,30m², đất tọa lạc ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi vay ông không có trả vốn và lãi cho Quỹ tín dụng M. Hiện nay ông còn nợ Quỹ tín dụng M số tiền 100.000.000 đồng vốn. Nay Quỹ tín dụng Mỹ B yêu cầu ông trả số tiền 128.412.000 đồng trong đó vốn 100.000.000 đồng, lãi trong hạn 10.800.000 đồng, lãi quá hạn 16.511.000 đồng và lãi chậm trả lãi vay 1.101.000 đồng (tạm tính đến ngày 21/6/2024) thì ông cũng đồng ý trả số tiền trên theo yêu cầu của Quỹ tín dụng M nhưng ông yêu cầu cho ông được trả sau 4 tháng.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 03/5/2024, bị đơn bà Võ Kim Ử trình bày:
Ngày 15 tháng 6 năm 2022 vợ chồng bà có vay của Quỹ tín dụng Mỹ B số tiền 100.000.000 đồng, khi vay vợ chồng bà có ký hợp đồng thế chấp đối với diện tích 2835,30m², đất đất này vợ chồng bà được Ủy ban nhân dân huyện C cấp vào ngày 04/6/2004. Sau khi vay vợ chồng bà không có trả vốn và lãi cho Quỹ tín dụng M. Quỹ tín dụng Mỹ B yêu cầu vợ chồng bà trả số vốn và lãi tạm tính đến ngày 16/4/2024, tổng cộng là 125.286.000 đồng thì bà cũng đồng ý trả. Ngoài ra bà không có ý kiến gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thanh Đ trình bày:
Anh có biết việc ông Q, bà Ử vay của Q1 tín dụng M số tiền 100.000.000 đồng, khi vay ông Q, bà Ử có thế chấp quyền sử dụng đất số vào số 05153QSDĐ/mB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Q, bà Ử vào ngày 04/6/2004 diện tích 2835,30m², đất tọa lạc ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi vay số tiền 100.000.000 đồng, ông Q, bà Ử không trả vốn, lãi cho Q1 tín dụng M. Hiện nay trên đất có căn nhà của ông Q, bà Ử và anh đang sống chung với ông Q, bà Ử. Nay Quỹ tín dụng M yêu cầu ông Q, bà Ử trả số tiền 125.286.000 đồng trong đó vốn 100.000.000 đồng, lãi trong hạn 10.800.000 đồng, lãi quá hạn 13.581.000 đồng và lãi chậm trả lãi vay 905.000 đồng (tính đến ngày 16/4/2024) thì anh không có ý kiến gì.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thể hiện diện tích 2835,30m² ông Q, bà Ử ký hợp đồng thế chấp tài sản hiện nay trên đất có căn nhà của vợ chồng ông Q, bà Ử và căn nhà của bà L (em của ông Q).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 73 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Thanh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L, anh Đ là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 323, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng, Điều 49 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân M.
Buộc ông Nguyễn Ngọc Q và bà Võ Kim Ử có nghĩa vụ trả cho Q1 tín dụng nhân dân Mỹ B số tiền số tiền 128.412.000 đồng trong đó vốn 100.000.000 đồng, lãi trong hạn 10.800.000 đồng, lãi quá hạn 16.511.000 đồng và lãi chậm trả lãi vay 1.101.000 đồng (tạm tính đến ngày 21/6/2024), tiếp tục tính lãi suất quá hạn từ ngày 22/6/2024 cho đến khi ông Q, bà Ử trả hết nợ.
Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp ngày 15/6/2022 để đảm bảo thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: theo đơn khởi kiện của Quỹ tín dụng M yêu cầu ông Q, bà Ử trả số tiền vốn 100.000.000 đồng cùng với lãi suất theo hợp đồng tín dụng ngày 15/6/2022 và duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TT1804411/HĐTD ngày 25/02/2020 để đảm bảo quyền lợi cho Quỹ tín dụng M. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 463, Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thế chấp tài sản.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: bị đơn ông Nguyễn Ngọc Q, bà Võ Kim Ử, cư trú ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Thanh Đ đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L, anh Đ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Thụy H, bị đơn bà Võ Kim Ử có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Ử theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét hợp đồng tín dụng số DS1800855/HĐTD ngày 15/6/2022 thể hiện ông Q, bà Ử vay của Q1 tín dụng Mỹ Bình số tiền 100.000.000 đồng. Việc ký kết hợp đồng, giao nhận tiền giữa các bên trên cơ sở tự nguyện, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp quy định tại Điều 116, 117, 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 và phù hợp Điều 90, 91, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.
[2.2] Căn cứ theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng và quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, đến nay ông Q, bà Ử chưa trả tiền nợ vốn, tiền lãi trong hạn và tiền lãi quá hạn theo thỏa thuận là vi phạm Điều 6, Điều 8 Hợp đồng tín dụng số DS1800855/HĐTD ngày 15/6/2022 được ký kết giữa Quỹ tín dụng M với ông Q, bà Ử. Tại phiên tòa hôm nay, ông Q xác định vợ chồng ông Q còn nợ Quỹ tín dụng M số tiền vốn 100.000.000 đồng và đồng ý trả vốn, lãi theo yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng M. Do đó Quỹ tín dụng M khởi kiện yêu cầu ông Q, bà Ử trả số tiền 128.412.000 đồng trong đó vốn 100.000.000 đồng, lãi trong hạn 10.800.000 đồng, lãi quá hạn 16.511.000 đồng và lãi chậm trả lãi vay 1.101.000 đồng (tạm tính đến ngày 21/6/2024) là có căn cứ để chấp nhận.
[2.3] Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TT1804411/HĐTD ngày 25/02/2020 giữa Quỹ tín dụng M với ông Q, bà Ử. Theo hợp đồng thế chấp, ông Q, bà Ử thế chấp quyền sử dụng đất số vào sổ 05153QSDĐ/mB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Q, bà Ử vào ngày 04/6/2004 cấp cho ông Q, bà Ử đã có đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ1 chi nhánh C là phù hợp quy định tại Điều 317, Điều 327, Điều 500, Điều 502 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TT1804411/HĐTD ngày 25/02/2020 ký kết giữa Quỹ tín dụng M với ông Q, bà Ử có giá trị pháp lý nên cần duy trì để đảm bảo thi hành án thu hồi nợ cho Quỹ tín dụng M nên yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng M về việc duy trì hợp đồng thế chấp số TT1804411/HĐTD ngày 25/02/2020 giữa Quỹ tín dụng M với ông Q, bà Ử là có căn cứ đề chấp nhận.
[2.4] Về số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: căn cứ Điều 157, Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự, ông Q, bà Ử cùng có nghĩa vụ nộp số tiền 400.000 đồng tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền để hoàn trả cho Quỹ tín dụng M.
[2.5] Về án phí sơ thẩm: do yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng M được chấp nhận nên Quỹ tín dụng Mỹ B được hoàn lại số tiền 3.090.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0015279 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 25 tháng 3 năm 2024.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Nguyễn Ngọc Q, bà Võ Kim Ử là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí nên ông Q, bà Ử được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 157, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 322, Điều 327, Điều 463, Điều 466, Điều 500, Điều 502, Điều 562, Điều 563 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 90, Điều 91, Điều 94, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 49 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân M (gọi tắt là Quỹ tín dụng M) đối với ông Nguyễn Ngọc Q, bà Võ Kim Ử.
Buộc ông Nguyễn Ngọc Q, bà Võ Kim Ử cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho Q1 tín dụng nhân dân Mỹ Bình (gọi tắt là Quỹ tín dụng M) số tiền 128.412.000 đồng trong đó vốn 100.000.000 đồng, lãi trong hạn 10.800.000 đồng, lãi quá hạn 16.511.000 đồng và lãi chậm trả lãi vay 1.101.000 đồng (tạm tính đến ngày 21/6/2024).
Tiếp tục duy trì lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng số DS1800855/HĐTD ngày 15/6/2022 cho đến khi ông Nguyễn Ngọc Q, bà Võ Kim Ử trả dứt nợ cho Q1 tín dụng nhân dân Mỹ Bình (gọi tắt là Quỹ tín dụng M).
Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TT1804411/HĐTD ngày 25/02/2020 giữa Quỹ tín dụng nhân dân M (gọi tắt là Quỹ tín dụng M) với ông Nguyễn Ngọc Q, bà Võ Kim Ử, kèm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 05153QSDĐ/mB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Q, bà Ử vào ngày 04/6/2004 cho đến khi ông Q, bà Ử trả hết nợ cho Quỹ tín dụng M.
Kể từ ngày 22 tháng 6 năm 2024, ông Nguyễn Ngọc Q, bà Võ Kim Ử còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Quỹ tín dụng nhân dân M (gọi tắt là Quỹ tín dụng M) cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Quỹ tín dụng nhân dân M (gọi tắt là Quỹ tín dụng M) cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ Bình (gọi tắt là Quỹ tín dụng M) cho vay.
Về án phí sơ thẩm:
Quỹ tín dụng nhân dân M (gọi tắt là Quỹ tín dụng M) được hoàn lại số tiền 3.090.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0015279 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 25 tháng 3 năm 2024.
Ông Nguyễn Ngọc Q, bà Võ Kim Ử được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Về chi phí tố tụng:
Ông Nguyễn Ngọc Q, bà Võ Kim Ử cùng có nghĩa vụ nộp số tiền 400.000 đồng tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền để hoàn trả cho Quỹ tín dụng nhân dân M (gọi tắt là Quỹ tín dụng M).
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của các đương sự vắng mặt được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND H. Chợ Mới; - Chi cục THADS H. Chợ Mới; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tuyền |
Bản án số 73/2024/DS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thế chấp tài sản
- Số bản án: 73/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thế chấp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 163/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 284/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân M (viết tắt Quỹ tín dụng M), địa chỉ: số A T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thụy H, sinh năm 1985, địa chỉ: số A phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (theo giấy ủy quyền ngày 13/3/2024) (có đơn xin vắng mặt). 2. Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1950, cư trú: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt). Bà Võ Kim Ử, sinh năm 1953, cư trú: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt). 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1961, cư trú: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt). Anh Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1990, cư trú: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
