TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – AN GIANG TỈNH AN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 73/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28/11/2025
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, xin ly hôn
và nuôi con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Ngân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Quốc Thanh;
- Ông Phan Phước Tân.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Hà Thanh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 108/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 110/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hà Thị Thanh T, sinh năm 1996; CCCD: [...] cấp ngày 22/11/2021; nơi cư trú: Số F, ấp C, xã L, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh, SĐT: 0346.924.xxx – Vắng mặt có đơn.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 2003; CCCD: [...] cấp ngày 07/03/2022; nơi cư trú: Tổ A, ấp A, xã V, tỉnh An Giang – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Hà Thị Thanh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của vợ chồng ông bà là tự tìm hiểu, cha mẹ hai bên đồng ý tiến hành tổ chức lễ cưới vào năm 2023, thực hiện đăng ký kết hôn vào ngày 22/02/2024 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh.
Thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 4/2024 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã. Ông bà đã ly thân từ thời gian đó đến nay.
Trong thời gian sống ly thân, ông T1 không liên hệ hàn gắn, tới lui thăm con chung. Nay bà nhận thấy không thể tiếp tục chung sống, dù gia đình hai bên có hòa giải nhưng cũng không còn hạnh phúc nên bà T quyết định nộp đơn xin ly hôn với ông T1.
Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống ông bà sinh được 01 (một) con chung tên Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh năm ngày 16/02/2024, bà T đồng ý tiếp tục nuôi dạy con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà yêu cầu không tiến hành hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử do bà T quyết ly hôn, không còn tình cảm với ông T1.
Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì
về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.
Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho ông T1 theo quy định nhưng ông T1 vẫn không có mặt theo các thông báo của Tòa án. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú và tình trạng hôn nhân của bà T và ông T1 để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Chứng cứ mà Tòa án thu thập được:
Về nơi cư trú: Theo Biên bản xác minh của Công an xã V ngày 15/10/2025 xác định ông Nguyễn Văn T1 vẫn còn đăng ký hộ khẩu tại địa chỉ tổ A, ấp A, xã V, tỉnh An Giang.
Về tình trạng hôn nhân: Ông Nguyễn Văn T2 là cha ruột của ông T1 cho biết sau khi kết hôn ông T1 và bà T chung sống, làm việc và phát sinh mâu thuẫn tại thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên nhân thì ông không rõ chỉ được ông T1 kể lại đã ly thân được hơn một năm, bà T từ trước đến nay cũng không về thăm nhà chồng chỉ liên hệ qua điện thoại. Ông T1, bà T có một đưa con gái hiện đang sống với và T. Đối với yêu cầu ly hôn của bà T và ông T1, ông không có ý kiến tùy ông T1 và bà T quyết định.
Tại phiên tòa, bà T vắng mặt có đơn; riêng ông T1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông bà theo thủ tục chung.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng... là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Bà T chung sống với ông T1 đến tháng 4/2024 thì không còn hạnh phúc nên bà khởi kiện yêu cầu được ly hôn, Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con chung là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Ông T2 hiện đang cư trú tại tổ A, ấp A, xã V, tỉnh An Giang. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15 - tỉnh An Giang.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Thanh T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Về hôn nhân: Bà T và ông T1 tiến đến hôn nhân là do tự tìm hiểu, được hai bên gia đình đồng ý tiến hành tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2024 nên phát sinh trách nhiệm pháp lý, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và được pháp luật bảo vệ theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Mặc dù Tòa án đã động viên và hòa giải nhưng bà T vẫn cương quyết xin được ly hôn với ông T1. Tại phiên hòa giải, bà T yêu cầu không tiến hành hòa giải do không còn tình cảm và tại phiên tòa hôm nay, bà T vắng mặt đã thể hiện việc không thể quay lại chung sống với ông T1. Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà T và ông T1 có thời gian ly thân từ đầu tháng 4/2024 đến nay nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn, bỏ mặt tình cảm vợ chồng, gia đình hai bên không can thiệp đã cho thấy mâu thuẫn của ông bà đã trầm trọng không thể hàn gắn được, đều này phù hợp với kết quả xác minh ngày 15/10/2025 của Tòa án về tình trạng hôn nhân của ông bà.
Trong quá trình tố tụng, ông T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và đã biết nội dung vụ án; ngoài ra, ông cũng đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ và hòa giải, cũng như tham gia các phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng ông đều vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến phản đối về yêu cầu khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ mà phía bà T cung cấp. Do đó, căn cứ Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét thấy việc bà T trình bày là có cơ sở nên Hội đồng xét xử nhận định mâu thuẫn giữa bà T và ông T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà T là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3.2] Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh năm ngày 16/02/2024, hiện nay con chung đang sống chung với bà T và gia đình. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn bà T đồng ý tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy, con chung chưa đủ 36 tháng tuổi,từ khi sinh ra đến nay được bà T chăm sóc, phát triển tốt, việc thay đổi chỗ ở, hoàn cảnh sống đột ngột sẽ ảnh hưởng đến tâm sinh lý và sự phát triển của cháu sau này. Do đó, việc tiếp tục giao con chung cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp với hoàn cảnh sống và quy định của pháp luật.
[3.3] Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của bà.
Hội đồng xét xử giải thích cho các đương sự biết: Bà T cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án xem xét nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Xét phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí: Bà T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016;
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Thanh T.
- Về hôn nhân: Bà Hà Thị Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Văn T1.
- Về con chung: Bà Hà Thị Thanh T được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh năm ngày 16/02/2024. Công nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà T cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về án phí: Bà Hà Thị Thanh T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002654 ngày 01/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà T đã nộp đủ. Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/11/2025), các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo đối với người vắng mặt được tính kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
* Nơi nhận: THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nguyễn Thị Thảo Ngân |
Bản án số 73/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – AN GIANG TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, xin ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 73/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, xin ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – AN GIANG TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà T xin ly hôn với ông T1
