|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 73/2025/HSST
Ngày: 22/10/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Trang
- - Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Đinh Quang Tuyến
- Bà Nguyễn Thị Thu Ba
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 tham gia phiên tòa: Ông Đặng Chí Nguyện - Kiểm sát viên.
Ngày 20/10 và ngày 22/10/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2025/HSST ngày 07 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Hồng P, sinh ngày 01/01/1981 tại C, Đồng Tháp; Nơi ĐKTT: Ấp T, phường C, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở: Tổ B, ấp T, phường C, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông (không rõ) và bà Phan Thị B, sinh năm 1957; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2025 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 19/5/2025, Phan Hồng P đang ở tại phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay là đặc khu P, tỉnh An Giang) được một người phụ nữ (chưa rõ nhân thân) gọi điện thoại nói có người tên Q (chưa rõ nhân thân) cần mua ma túy, do cần tiền tiêu sài nên P đồng ý bán cho Q 6.000.000 đồng ma túy đá. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, một người phụ nữ (chưa rõ nhân thân), đến tiệm tạp hóa của chị Mai Thanh T tại chợ C thuê điện thoại di động của chị T, do hàng ngày chị T cho nhiều người thuê điện thoại không nhớ mặt người phụ nữ trên. Người phụ nữ gọi cho P thỏa thuận bán ma túy cho P với giá 5.000.000 đồng và hẹn giao tại thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ (nay là xã C, thành phố Cần Thơ). Khi người phụ nữ điện thoại chị T không nghe nội dung người phụ nữ điện. Đến khoảng 17 giờ ngày 20/5/2025, P đến quán cà phê cách chợ C khoảng 200 mét gặp người phụ nữ để trao đổi về việc mua ma túy, sau đó người phụ nữ về trước, P ở lại quán. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, người phụ nữ quay lại quán cà phê đưa cho P một chiếc nón bảo hiểm, bên trong đễ sẵn 02 bịch ma túy, P đưa cho người phụ nữ 5.000.000 đồng. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, P đi xe khách về bến tàu Rạch G và ở lại. Đến khoảng 07 giờ 10 phút ngày 21/5/2025, P1 đi tàu cao tốc Superdong X từ cảng R về cảng B. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, tàu cập cảng số 01, cảng B thuộc ấp B, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay là khu phố B, đặc khu P, tỉnh An Giang), khi P vừa từ tàu bước lên cầu cảng thì bị lực lượng Biên phòng Cửa khẩu cảng D phối hợp với Công an tỉnh K kiểm tra, phát hiện P đang cất giấu 02 bịch ma túy loại Methamphetamine để bán cho người tên Q (chưa rõ nhân thân) nên lập biên bản bắt quả tang. Ngày 27/5/2025, Ban C1 khởi tố vụ án, chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh K. Ngày 28/5/2025, Phan Hồng P bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh K (nay là Công an tỉnh A) khởi tố, tạm giam để điều tra.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài, viền màu đỏ, có kích thước khoảng 7,5cm x 05cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất;
- 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài, viền màu đỏ, có kích thước khoảng 07cm x 04cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, chủng loại A17K, màu vàng, số imei 1: 865579063979238, số imei 2: 865579063979220, có gắn thẻ sim 1: 0334881187, thẻ sim 2: 0907310158, đã qua sử dụng.
- 01 mũ bảo hiểm kiểm lưỡi trai, màu tím, không rõ nhãn hiệu, phần vỏ nhựa và phần xốp tách rời, đã qua sử dụng.
* Tại bản kết luận giám định số: 552/KL-KTHS ngày 23/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh K, kết luận:
- Các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất chứa trong 01 bịch nylon có kích thước 7,5cm x 05cm, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 20,0259 gam.
- Các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất chứa trong 01 bịch nylon có kích thước 07cm x 04cm, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,4467 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại bản cáo trạng số 54/CT-VKSKV2 ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang đã truy tố bị cáo Phan Hồng P về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị HĐXX áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 09 năm đến 10 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định, 01 điện thoại di động và 01 mũ bảo hiểm của bị cáo.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P (nay là Công an tỉnh A), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang truy tố.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật thu giữ được trong vụ án, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 20/5/2025, Phan Hồng P mua 02 bịch ma túy của người phụ nữ (chưa rõ nhân thân) tại thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ (nay là xã C, thành phố Cần Thơ) đem về P bán lại cho người tên Q (chưa rõ nhân thân) để kiếm lời. Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 21/5/2025, khi P về đến Cảng B thuộc ấp B, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay là khu phố B, đặc khu P, tỉnh An Giang) thì bị lực lượng Biên phòng Cửa khẩu cảng D phối hợp với Công an tỉnh K bắt quả tang, thu giữ 20,4726 gam ma túy, qua kết luận giám định là ma tuý loại Methamphetamine.
Do đó, cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang truy tố bị cáo về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 BLHS là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi mua bán phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy nhưng vì vụ lợi của bản thân bị cáo bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được xem xét khi Hội đồng xét xử quyết định hình phạt.
[5]. Về quan điểm của Viện kiểm sát: Đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang về tội danh, mức hình phạt, biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận.
[6]. Về các vấn đề khác:
- Về biện pháp tư pháp: Đối với số ma túy còn lại sau giám định và 01 mũ bảo hiểm của bị cáo là vật chứng trong vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với điện thoại di động do bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với Mai Thanh T cho người phụ nữ không rõ nhân thân thuê điện thoại di động, T không biết người phụ nữ sử dụng điện thoại điện thỏa thuận bán ma túy nên không xử lý.
Đối với người phụ nữ và người tên Q chưa rõ nhân thân hỏi mua ma túy của Phan Hồng P, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A đang tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Đối với người phụ nữ chưa rõ nhân thân đã bán ma túy cho Phan Hồng P, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A đang tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ: Điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Hồng P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Phan Hồng P 09 (chín) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 21/5/2025.
- Về biện pháp tư pháp:Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Tịch thu tiêu hủy:
- Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu vụ số 587/2025. Bên trong phong bì gồm bao gói đựng mẫu và:
- + Các hạt tinh thể chứa trong 01 bịch nylon có kích thước 7,5cm x 05cm còn lại sau giám định có khối lượng là 19,5853 gam (đựng trong 01 bịch nylon).
- + Các hạt tinh thể chứa trong 01 bịch nylon có kích thước 07cm x 04cm còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2785 gam (đựng trong 01 bịch nylon).
- 01 mũ bảo hiểm kiểm lưỡi trai, màu tím, không rõ nhãn hiệu, phần vỏ nhựa và phần xốp tách rời, đã qua sử dụng của bị cáo.
- - Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, chủng loại A17K, màu vàng, số imei 1: 865579063979238, số imei 2: 865579063979220, có gắn thẻ sim 1: 0334881187, thẻ sim 2: 0907310158, đã qua sử dụng của bị cáo.
(Theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 43/QĐ-VKSKV2 ngày 29/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang).
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Trang |
Bản án số 73/2025/HSST ngày 22/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 73/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
