TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 73/2025/HS-ST Ngày 09-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Dung
Ông Vũ Văn Thi
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hường – Thẩm tra viên Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Trà My - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 40/TB-TA ngày 25 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Đồng T, sinh ngày 03 tháng 4 năm 1983 tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Số D đường T, phường H, Quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đồng T1 và bà Phạm Thị Kim A; chưa có vợ, con; tiền án: Có 03 tiền án chưa được xóa gồm: Bản án số 234/2011/HSST ngày 30/12/2011 Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”, Bản án số 10/2014/HSST ngày 16/01/2014 Tòa nhân dân Quận L, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, Bản án số 59/2014/HSST ngày 22/5/2014 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”, tổng hợp với hình phạt 36 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án số 10/2014/HSST ngày 16/01/2014, buộc chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 12 năm tù (chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/01/2022); tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 96/2024/HS-ST ngày 16/5/2024 Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (hành vi phạm tội tại bản án này không tính là tiền án); bị cáo đang chấp hành hình phạt
tù theo bản án số 96/2024/HS-ST ngày 16/5/2024 của Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tại Trại giam S1 – Bộ C; có mặt.
2. Nguyễn Văn H, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1976, tại Hải Phòng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B Lô A Công nhân D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú: Số A đường C, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị H1; có vợ là Phạm Thị H2 và 03 con; tiền án: Có 04 tiền án chưa được xóa tại Bản án số 235/HSST ngày 27/11/2003 Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Chưa thi hành hình phạt bổ sung), Bản án số 81/2008/HSST ngày 11/4/2008 Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”, Bản án số 56/2010/HSST ngày 21/9/2010 Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và Bản án số 170/2014/HSST ngày 23/9/2014 Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/01/2022); tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 96/2024/HS-ST ngày 16/5/2024 Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (hành vi phạm tội tại bản án này không tính là tiền án); bị cáo đang chấp hành hình phạt tù theo bản án số 96/2024/HS-ST ngày 16/5/2024 của Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tại Trại giam S1 – Bộ C; có mặt.
- Bị hại: Anh Vũ Trọng H3, sinh năm 1999; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường A, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Vũ Mạnh Đ, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số B A, phường A, quận A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 04/01/2024, Nguyễn Đồng T và Nguyễn Văn H rủ nhau đi trộm cắp tài sản. T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen (không nhớ biển kiểm soát) chở H đi qua Công ty TNHH M thuộc thôn C, xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng phát hiện thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 15C1-316.59 đang dựng trong lán để xe của Công ty. T dừng xe để H đi bộ vào dắt chiếc xe trên ra đường, H ngồi lên xe để T điều khiển xe AirBlade dùng chân đẩy đi về quán nước ở khu vực Chợ Đ thuộc phường N, Quận L, thành phố Hải Phòng. Tại đây, H lấy cờ lê cậy cốp xe vừa trộm cắp được thấy bên trong có 01 ví da màu đen, 01 giấy đăng ký xe và số tiền 1.500.000 đồng. H đưa tiền cho T để trả tiền nước và sửa xe, cả hai thống nhất bán xe lấy tiền chia nhau. T mang xe biển kiểm soát 15C1-316.59 về phòng trọ của bạn tại phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng cấu giấu. Đến 20 giờ cùng ngày, T liên hệ với anh Nguyễn Mạnh Đ1 ở thôn
A, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng để bán xe, anh Đ1 thấy xe có giấy tờ nên đồng ý mua với giá 19.000.000 đồng, chuyển khoản đủ tiền cho T và gửi lại xe ở phòng trọ. Sau khi nhận tiền, T chưa chia cho H và đã tiêu cá nhân hết. Ngày 08/01/2024, khi biết T bị Công an quận N về hành vi trộm cắp tài sản, anh Đ1 đã liên hệ với chủ xe theo giấy đăng ký là anh Vũ Trọng H3, trú tại thôn L, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng biết được anh H3 bị mất xe nên đã trả lại xe cùng giấy tờ cho anh H3. Ngày 09/01/2024 anh H3 đến Công an xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng trình báo và giao nộp chiếc xe trên cùng giấy tờ xe.
Kết luận định giá tài sản số 334/KL-HĐĐG ngày 29/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Airblade màu đen, đỏ mang biển kiểm soát 15C1- 316.59 trị giá 23.570.000 đồng.
Cáo trạng số 41/CT-VKSAD ngày 06 tháng 02 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo Nguyễn Đồng T và Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Bị hại anh Vũ Trọng H3 có đơn đề nghị xét xử các bị cáo theo quy định của pháp luật và không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại nào.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Mạnh Đ1 không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền 19.000.000 đồng.
Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Đồng T và Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Các bị cáo nhận thức hình vi của mình là trái pháp luật nên các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đồng T và Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đồng T từ 42 tháng đến 48 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 36 tháng đến 42 tháng tù.
Áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt tại bản án số 96/2024/HS-ST ngày 16/5/2024 của Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, buộc các bị cáo Nguyễn Đồng T và Nguyễn Văn H mỗi bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 78 tháng đến 90 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định các bị cáo có tội và tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 334/KL-HĐĐG ngày 29/01/2024 và với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Chiều ngày 04/01/2024, tại Công ty TNHH M thuộc thôn C, xã N, huyện A (nay là tổ dân phố C, phường N, quận A), thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn H và Nguyễn Đồng T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô biển kiểm soát 15C1-316.59 trị giá 23.570.000 đồng và số tiền 1.500.000 đồng của anh Vũ Trọng H3, tổng giá trị tài sản các bị cáo đã chiếm đoạt là 25.070.000đồng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Nguyễn Đồng T có 03 tiền án chưa được xóa án tích, trong đó lần phạm tội tại bản án số 59/2014/HSST ngày 22/5/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã xác định là tái phạm. Bị cáo Nguyễn Văn H có 04 tiền án chưa được xóa án tích, trong đó lần phạm tội tại bản án số 170/2014/HSST ngày 23/9/2014 của Tòa án nhân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã xác định là tái phạm nguy hiểm. Nay bị cáo T và bị cáo H lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, do đó các bị cáo T và H phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo Điều 53 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về vai trò và hình phạt đối với các bị cáo: Các bị cáo T và H rủ nhau đi trộm cắp tài sản, cả hai trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên T là người tiêu thụ tài sản, sử dụng hết số tiền bán tài sản do phạm tội mà có nên đánh giá vài trò của bị cáo T cao hơn bị cáo H và chịu mức hình phạt cao hơn H. Theo quy định
tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét tính chất hành vi phạm tội và hoàn cảnh của các bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về tổng hợp hình phạt: Bị cáo T và bị cáo H đang chấp hành hình phạt tù tại bản án số 96/2024/HS-ST ngày 16/5/2024 của Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nên căn cứ Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt của bản án này, buộc bị cáo Nguyễn Đồng T và bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Số tiền 1.500.000đồng và chiếc vi da anh H3 không yêu cầu các bị cáo bồi thường; chiếc xe máy đã được anh Nguyễn Mạnh Đ1 trả lại cho anh H3 và anh H3 không có yêu cầu bồi thường nào khác đối với các bị cáo nên không giải quyết. Đối với số tiền 19.000.000đồng, anh Đ1 trả cho T khi mua chiếc xe của anh H3, quá trình giải quyết vụ án anh Đ1 không yêu cầu các bị cáo phải trả số tiền này nên không giải quyết.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Đồng T và Nguyễn Văn H.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đồng T và Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đồng T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 (Ba) năm tù.
- Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự:
+ Tổng hợp với hình phạt 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 96/2024/HS-ST ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, buộc bị cáo Nguyễn Đồng T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù.
+ Tổng hợp với hình phạt 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 96/2024/HS-ST ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn tù của các bị cáo tính từ ngày 05/01/2024.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo bị cáo Nguyễn Đồng T và Nguyễn Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Liên |
Bản án số 73/2025/HS-ST ngày 09/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 73/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đồng Thịnh
