Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LONG BIÊN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/HS-ST

Ngày: 03/04/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Đức Minh

Bà Lê Kim Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Hiệp – Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 03 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 03 năm 2025, đối với bị cáo:

TRẦN HỮU T, sinh năm 1989;

Nơi cư trú: Căn hộ C, tòa S tổ dân phố số G, phường T, quận N, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; con ông: Trần Công H; con bà: Nguyễn Thị N; Vợ: Đặng Thị Vân A, sinh năm 1990; Con có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con bé sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ngân hàng Thương mại cổ phần T2. Trụ sở: Số E phố L, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Đại diện pháp luật: Ông Đỗ Minh P, sinh năm 1953; Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị. Đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Vũ L, sinh năm 1976; Chức vụ: Phó giám đốc Trung tâm xử lý nợ Khách hàng cá nhân; Ông Nguyễn Vũ L ủy quyền lại cho ông Nguyễn Phạm Văn A1, sinh năm 1995; Ông Hoàng Thản N1, sinh năm 1990; Chức vụ: Cán bộ xử lý nợ Trung tâm xử lý nợ Khách hàng cá nhân. Ông N1 có mặt.

- Chị Đặng Thị Vân A, sinh năm 1990; Căn hộ 3315 tòa S102 TDP số G, phường T, quận N, thành phố Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Hữu T mua xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A2.0 mang BKS: 30G.453.18 rồi thế chấp xe ô tô tại ngân hàng Thương mại cổ phần T2 để vay ngân hàng tiền trả tiền mua xe. Đến đầu tháng 8/2024, xe ô tô trên hết hạn đăng kiểm nhưng do T chưa thanh toán tiền lãi hàng tháng cho ngân hàng nên ngân hàng không cấp giấy biên nhận thế chấp. Vì vậy, T không làm thủ tục đăng kiểm được đối với chiếc xe ô tô trên. Đến cuối tháng 08/2024, T lên mạng xã hội đặt mua của một người không quen biết Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, T1 kiểm định, T1 nộp phí sử dụng đường bộ giả của xe ô tô trên với giá 3.000.000 đồng. Đến 07h30’ ngày 02/11/2024, khi T điều khiển xe ô tô mang BKS: 30G.453.18 đi trên đường C, phường T hướng cầu V thì bị tổ công tác đặc biệt số 8/KH75, Công an thành phố H yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T xuất trình Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, T1 kiểm định, T1 nộp phí sử dụng đường bộ đang sử dụng trên để tổ công tác kiểm tra. Do nghi ngờ giấy tờ trên nên tổ công tác đã hỏi T về nguồn gốc giấy tờ trên. Tại chỗ, T khai nhận với tổ công tác các giấy tờ vừa đưa kiểm tra là giả. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản và đưa T cùng tang vật về trụ sở Công an phường T để tiếp tục làm rõ.

Vật chứng thu của Trần Hữu T:

  • - 01 giấy chứng nhận kiểm định số: DA 4188731 cấp ngày 03/08/2024 của Trung tâm Đ – 21D, Chi Nhánh Công ty cổ phần Đ1.
  • - 01 tem an toàn kỹ thuật số No: DA 0996242 mặt sau có đóng dấu của Trung tâm Đ – 21D – Chi Nhánh Công ty cổ phần Đ1.
  • - 01 tem nộp phí sử dụng đường bộ số No: IA 1082599 mặt sau có đóng dấu của Trung tâm Đ – 21D – Chi Nhánh Công ty cổ phần Đ1.
  • - 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A2.0 màu xanh mang BKS: 30G - 453.18 có số máy: 200900030VF29SED; có số khung: RPXAB1RSFLV00286.
  • - 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Trần Hữu T.

Cơ quan điều tra xác minh tại Trung tâm Đ – 21D thể hiện: Xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A2.0 màu xanh mang BKS: 30G - 453.18 có số máy: 200900030VF29SED; có số khung: RPXAB1RSFLV00286 đăng kiểm lần cuối từ ngày 07/02/2023 có thời hạn đến ngày 06/08/2024.

Tại bản kết luận giám định số 8457/KL-KTHS ngày 09/12/2024 của Phòng K - C kết luận: Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, T1 kiểm định, T1 nộp phí sử dụng đường bộ mà T sử dụng bị đội công tác thu giữ ngày 02/11/2024 là giả.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Hữu T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo ngoài xã hội để có cơ hội đi làm trả nhiều khoản nợ do làm ăn thua lỗ thời kỳ hậu Covid của gia đình. Bị cáo xin lại xe ô tô để thỏa thuận giải quyết trả nợ với ngân hàng.

Chị Đặng Thị Vân A là vợ Trần Hữu T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai xác nhận xe ô tô là tài sản chung vợ chồng và chị đã cùng T ký hợp đồng vay tín dụng và hợp đồng thế chấp tại Ngân hàng TMCP T2. Do kinh tế gia đình khó khăn nên vợ chồng đã không trả nợ được ngân hàng đúng hạn. Việc chồng là Trần Hữu T làm giả giấy tờ để lưu thông xe trên đường chị không biết. Chị đề nghị xin lại xe để vợ chồng tìm hướng quyết toán trả nợ với ngân hàng.

Đại diện ngân hàng TMCP T2 là ông Hoàng Thản N1 cho biết vợ chồng Trần Hữu T và Đặng Thị Vân A đã ký hợp đồng vay kiêm thế chấp xe ô tô số: 691/2020/HĐTD/TTB MB4/01 ký ngày 30/7/2020 nhưng ông T và bà Vân A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên khoản nợ đã bị ngân hàng chuyển sang nợ xấu, quá hạn kể từ ngày 26/8/2023. Nay số dự nợ của vợ chồng anh T, chị Vân A đến đầu tháng 4/2025 là 410.063.644 đồng (chưa bao gồm lãi chậm trả), chưa tất toán được khoản vay này cho ngân hàng nên đề nghị Hội đồng xét xử giao xe ô tô nêu trên cho Ngân hàng để ngân hàng xử lý khoản nợ của anh T và chị Vân A.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thấy rằng: Hành vi của bị cáo Trần Hữu T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Hữu T mức án phạt tù từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 18 đến 24 tháng.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

  • + Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, Tem kiểm định, T1 nộp phí sử dụng đề nghị cho tịch thu lưu hồ sơ vụ án.
  • + Trả lại giấy phép lái xe ô tô B2 cho bị cáo T.
  • + Trả lại xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A2.0 màu xanh mang BKS: 30G - 453.18 cho bị cáo T.
  • - Ngoài ra, còn đề xuất xử lý về tiền án phí.

Nói lời sau cùng, bị cáo Trần Hữu T thừa nhận hành vi phạm tội, rất ăn năn về hành vi sai phạm của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt dành cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 07 giờ 30 phút, ngày 02/11/2024, tại đường C, phường T, quận L, Hà Nội hướng đi cầu V, Công an thành phố H phát hiện chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A2.0, biển kiểm soát 30G.453.18 do Trần Hữu T điều khiển có hành vi sử dụng 01 (một) bộ giấy tờ giả gồm: Một giấy chứng nhận kiểm định số DA 4188731 cấp ngày 03/08/2024 của Trung tâm Đ – 21D, Chi Nhánh Công ty cổ phần Đ1; Một tem an toàn kỹ thuật số DA 0996242 mặt sau có đóng dấu của Trung tâm Đ – 21D – Chi Nhánh Công ty cổ phần Đ1; Một tem nộp phí sử dụng đường bộ số IA 1082599 mặt sau có đóng dấu của Trung tâm Đ – 21D – Chi Nhánh Công ty cổ phần Đ1. Số giấy tờ giả này là do Trần Hữu T đặt mua trên mạng với giá 2.000.000 đồng, mục đích để điều khiển xe ô tô lưu thông trên đường nhằm không bị cơ quan chức năng phát hiện. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo T theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự về tội “sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức” là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước của Nhà nước về sử dụng con dấu, tài liệu, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức hành vi sử dụng con dấu, tài liệu giả là vi phạm pháp luật, nhưng liều lĩnh, coi thường pháp luật, cố ý thực hiện hành vi trái pháp luật. Vì vậy, đưa bị cáo ra xét xử và có hình phạt tương thích với hành vi phạm tội mới có tác dụng răn đe giáo dục và làm gương cho người có ý định phạm tội.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Hữu T không có tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Trần Hữu T có tình tiết giảm nhẹ là quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có hai tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cơ hội cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện viện kiểm sát là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5]. Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo chưa có việc làm ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, vì vậy HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về vật chứng thu giữ của bị cáo: Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Trần Hữu T và chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A2.0, biển kiểm soát 30G-453.18 là của Trần Hữu T và vợ là chị Đặng Thị Vân A mua trả góp, thế chấp tại ngân hàng Thương mại cổ phần T2. Qua tra cứu, xe ô tô trên không nằm trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Xe ô tô là tài sản chung vợ chồng của T và chị Vân A. T sử dụng bộ giấy tờ giả để lưu thông xe trên đường chị Vân A không biết. Đây là vụ án sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức, xe ô tô là tài sản chung hợp nhất của T và chị Vân A nên xác định bằng lái xe ô tô của T và xe ô tô không liên quan đến hành vi phạm tội, không phải là vật chứng của vụ án. Do vậy cần trả lại cho các đồng chủ sở hữu và người quản lý là bị cáo Trần Hữu T, người đứng tên trên giấy đăng ký xe ô tô là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7]. Các vấn đề khác:

- Đối với yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần T2 đề nghị HĐXX giao xe Vinfast Lux A2.0, biển kiểm soát 30G-453.18 cho Ngân hàng để ngân hàng xử lý thu hồi nợ của Trần Hữu T và chị Đặng Thị Vân A. Xét thấy, trường hợp bị cáo T và vợ là chị Vân A vi phạm nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng TMCP T2 căn cứ vào thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng kiêm thế chấp xe ô tô số: 691/2020/HĐTD/TTB MB4/01 ký ngày 30/7/2020 để giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự là phù hợp với quy định tại Khoản 4 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối tượng bán giấy tờ giả cho T, T khai liên hệ người này trên mạng xã hội, T không quen biết người này, không nhớ trang mạng xã hội đã liên hệ và không biết nhân thân người giao hàng. Do vậy, không có cơ sở xử lý giải quyết.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Hữu T 09 (chín) tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám tháng) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Hữu T cho Ủy ban nhân dân phường T, quận N, thành phố Hà Nội nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Trả lại cho Trần Hữu T: Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Trần Hữu T.
  • - Trả lại cho Trần Hữu T: Xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A2.0, biển kiểm soát 30G-453.18 (đã được niêm phong 04 cánh cửa, nắp capo và cốp sau xe).

(Vật chứng và tài sản trên được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 26/2/2025)

3. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Trần Hữu T chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 bộ luật Tố tụng Hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./

Nơi nhận:

  • - TANDIP Hà Nội;
  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - VKSND quận Long Biên;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - Công an phường T, Mỗ, Nam Từ Liêm, Hà Nội;
  • - Tòa ban hành quyết định, cấp giấy tờ;
  • - Chi cục THA.DS quận Long Biên;
  • - Cơ quan THA.HS quận Long Biên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ- Lưu VP/TA.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức)

  • Số bản án: 73/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 1 Điều 341, điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Hữu Tuấn 09 (chín) tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám tháng) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger