Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/DS-ST

Ngày: 24 – 3 – 2025

V/v hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường
  • - Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hùng Bích – Ông Lê Thành Thật
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên không tham gia phiên tòa.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 18/2025/TLST-DS ngày 10 tháng 01 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 73/2025/QĐST-DS ngày 03 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Diệu T, sinh năm 1983

Địa chỉ thường trú: Tổ A, khóm M, phường C, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Địa chỉ liên hệ: Số B đường N, khóm D, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thúy Q, sinh năm: 1984. Địa chỉ: 1, tổ D, Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Địa chỉ liên hệ: Số A L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1961.

Địa chỉ: Số C, tổ C, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. SĐT: 0833.081.xxx.

Tất cả đương sự vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 03/5/2024, ông H có vay của bà T số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), có ký kết hợp đồng vay tài sản cùng ngày tại Văn phòng C. Lãi suất thỏa thuận 1,66%/tháng, thời hạn vay 03/5/2024 đến ngày 03/8/2024.

Để đảm bảo khoản vay, ông H có giao cho bà T bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE18395, số vào sổ cấp GCN CS: 07221 do Sở T2 cấp ngày 19/01/2017 mang tên Nguyễn Minh H. Việc thế chấp này không có công chứng.

Từ khi vay cho đến nay, ông H không đóng lãi, trả vốn cho bà. Do đó, nay bà khởi kiện yêu cầu:

  1. Buộc ông Nguyễn Minh H trả lại cho bà Đỗ Thị Diệu T số tiền là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).
  2. Yêu cầu tính lãi suất theo quy định pháp luật là 1,66%/tháng từ ngày 04/5/2024 đến khi Tòa án xét xử xong. Khi nào ông Nguyễn Minh H thanh toán xong tiền vốn và tiền lãi thì bà Đỗ Thị Diệu T sẽ giao trả lại cho ông Nguyễn Minh H một bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE18395, số vào sổ cấp GCN CS: 07221 do Sở T2 cấp ngày 19/01/2017.

Án phí dân sự sơ thẩm: theo quy định pháp luật.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Minh H vắng mặt không tham gia phiên họp và không gửi tự khai trình bày ý kiến do đó không ghi nhận được ý kiến của của ông Nguyễn Minh H.

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 20/3/2025: Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin xét xử vắng mặt và xác định yêu cầu khởi kiện: yêu cầu ông H trả cho bà T số tiền vốn 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) và tiền lãi với mức lãi suất theo quy định pháp luật tính từ ngày 04/5/2024 cho đến khi Tòa án xét xử xong. Về bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE18395, số vào sổ cấp GCN CS: 07221 do Sở T2 cấp ngày 19/01/2017 thì không có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: bà Đỗ Thị Diệu T khởi kiện về hợp đồng vay tài sản đối với ông Nguyễn Minh H có địa chỉ cư trú tại thành phố L nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về thủ tục tố tụng:

Theo Hợp đồng vay tiền giữa bà Đỗ Thị Diệu T và ông Nguyễn Minh H được công chứng ngày 03/5/2024 tại Văn phòng C có ghi rõ địa chỉ thường trú của ông Nguyễn Minh H tại số C, tổ C, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. Nay ông Nguyễn Minh H vắng mặt căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ – HĐTP ngày 05/5/2017, Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên tiến hành tống đạt bằng thủ tục niêm yết và tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Các đương sự đã được triệu tập hợp lệ nhưng nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, ông H vắng mặt không có lý do tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Toà án đã thực hiện, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cũng như thông báo kết quả phiên họp cùng toàn bộ tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để ông H thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và chứng cứ của nguyên đơn. Tuy nhiên ông H vắng mặt không tham gia phiên họp, hòa giải, xét xử và không gửi văn bản trình bày ý kiến, xem như ông Hoàng T1 từ bỏ quyền lợi cũng như không bác bỏ yêu cầu khởi kiện và chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ để giải quyết vụ án.

[2.2] Bà T khởi kiện hợp đồng vay tài sản căn cứ vào hợp đồng vay tiền công chứng ngày 03/5/2024 tại Văn phòng C. Căn cứ Điều 92, Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 5 Luật Công chứng 2014 và hợp đồng vay tiền ngày 03/5/2024 đã có đủ cơ sở xác định, bà T và ông H có xác lập hợp đồng vay tài sản với số tiền vốn vay 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng) là thật. Việc hai bên xác lập hợp đồng vay tài sản là tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật theo Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015 nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định pháp luật.

[2.3] Căn cứ theo Điều 2 Hợp đồng vay tiền thời hạn vay là 03 tháng từ ngày 03/5/2024 đến ngày 03/8/2024 tuy nhiên cho đến nay ông H chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà T theo như hợp đồng, như vậy ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó căn cứ Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, buộc ông H có nghĩa vụ trả số tiền vốn vay 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).

[2.4] Về tiền lãi: Điều 3 Hợp đồng có ghi nhận lãi suất do hai bên tự thỏa thuận theo quy định pháp luật và Điều 2 thời hạn vay là 03 tháng, như vậy đây là hợp đồng vay có kỳ hạn, có lãi nhưng hợp đồng không xác định được mức lãi suất cụ thể. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 468, khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 đối với hợp đồng vay giữa bà T, ông H, Hội đồng xét xử áp dụng mức lãi suất trong thời hạn vay là 10%/năm; lãi suất quá hạn là 15%/năm, cụ thể:

  • - Từ ngày 03/5/2024 đến ngày 03/8/2024: 10%/năm x 300.000.000₫ x 03 tháng = 7.500.000 đồng
  • - Từ ngày 04/8/2024 đến ngày xét xử 24/3/2025: 150% x 10%/năm x 300.000.000₫ x 07 tháng 20 ngày = 28.716.000 đồng

Tổng số tiền ông H có nghĩa vụ trả cho bà T là: 300.000.000đ + 7.500.000 đ + 28.716.000 đ = 336.216.000 đồng (ba trăm ba mươi sáu triệu, hai trăm mười sáu ngàn đồng).

[2.5] Về bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE18395, số vào sổ cấp GCN CS: 07221 do Sở T2 cấp ngày 19/01/2017, các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Trường hợp có tranh chấp, các bên có quyền khởi kiện thành vụ án khác theo quy định pháp luật.

[2.6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của bà T được chấp nhận nên bà T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 92, Điều 95, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
  • - Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật dân sự 2015;
  • - Căn cứ Điều 5 Luật Công chứng 2014;
  • - Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ – HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị Diệu T. Buộc ông Nguyễn Minh H có nghĩa vụ trả cho bà Đỗ Thị Diệu T số tiền 336.216.000 đồng (ba trăm ba mươi sáu triệu, hai trăm mười sáu ngàn đồng), trong đó tiền vốn vay: 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) và tiền lãi: 36.216.000 đồng (ba mươi sáu triệu, hai trăm mười sáu ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Minh H phải chịu 16.810.000 đồng (mười sáu triệu, tám trăm mười ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trả cho bà Đỗ Thị Diệu T số tiền 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002070 ngày 10/01/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên.

Bà Đỗ Thị Diệu T và ông Nguyễn Minh H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS Tp.Long Xuyên;
  • - Lưu; hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa





Nguyễn Thị Cẩm Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/DS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 73/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger