Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƠN TRẠCH

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 73/2025/HS-ST

Ngày: 19 - 3 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hữu Chí.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thanh Phương;

2. Ông Thái Minh Trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Đình Linh Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại Hội trường xét xử A, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/HSST-QĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Bích L (tên gọi khác: Mười L1), sinh ngày 14/7/1965 tại tỉnh Đồng Nai.

Nơi cư trú và nơi ở hiện nay: ấp Đ, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P (đã chết) và bà Lê Thị T (đã chết); Bị cáo có chồng tên Huỳnh Công T1, sinh năm 1963 và có 02 con (Lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1998); Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân tốt.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/8/2024 cho đến nay tại Nhà Tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai (Nay là P1 trại Tạm giam khu vực N-Công an tỉnh Đ).(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

  1. Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1964. Nơi cư trú: tổ I, khu phố P, phường M, Thị xã P, Thành phố B.
  2. Anh Nguyễn Thành T2, sinh năm 1988. Nơi cư trú: tổ B, ấp C, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
  3. Ông Trần Công D, sinh năm 1967.

Nơi cư trú: tổ G, khu phố V, phường P, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Phạm Văn H, sinh năm 1980. Nơi cư trú: ấp V, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
  2. Bà Nguyễn Thị Kim L2, sinh năm 1963. Nơi cư trú: ấp X, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng: Ông Huỳnh Văn D1, sinh năm 1982.

(Ông G, anh T2, ông D1, bà Kim L2 có mặt; ông H, ông Huỳnh Văn D1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Bích L lợi dụng đang tranh chấp tài sản thừa kế gồm diện tích đất tại các thửa 175, 176, 177 tờ bản đồ số 29 và thửa 223 tờ bản đồ số 9 cũ (nay là thửa 71, 72, 101 tờ bản đồ số 29) thuộc xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai (trên các thửa đất có trồng tràm không phải do L trồng); từ tháng 12 năm 2014, Nguyễn Thị Bích L đã bán vườn tràm trên cho những người cụ thể như sau:

+ Lần 1: Vào đầu tháng 12/2014, Nguyễn Thị Bích L bán cây tràm cho ông Phạm Văn H (sinh năm 1980) trú tại ấp V, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai với số tiền 30.000.000 đồng. Ông H đưa trước cho Nguyễn Thị Bích L số tiền 10.000.000 đồng, khi nào cưa cây thì sẽ đưa hết 20.000.000 đồng còn lại để tiến hành cưa cây tràm, ông H thuê người đến cưa cây thì bị bà Nguyễn Thị Kim L2 ngăn chặn không cho cưa. Ông H yêu cầu Nguyễn Thị Bích L trả lại tiền cọc nhưng không trả, do số tiền ít nên ông H không làm đơn trình báo và không yêu cầu bồi thường.

+ Lần 2: Vào khoảng tháng 05/2022, Nguyễn Thị Bích L bán cây tràm cho ông Nguyễn Văn G (sinh năm 1964), trú tại tổ I, khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với số tiền 100.000.000 đồng. Ông G cọc 50.000.000 đồng cho Nguyễn Thị Bích L và hẹn 01 tuần sau đưa thêm 50.000.000 đồng còn lại. Đến ngày 02/6/2022, ông G đến nhà Nguyễn Thị Bích L đưa đủ số tiền còn lại và làm giấy mua bán có chữ ký xác nhận của các bên thể hiện việc ông G mua vườn cây tràm của Nguyễn Thị Bích L với số tiền 100.000.000 đồng. Đến đầu tháng 8/2022 ông G tiến hành cưa cây tràm thì bị bà Nguyễn Thị Kim L2 phát hiện báo Công an xã P. Ông G yêu cầu Nguyễn Thị Bích L trả lại số tiền cọc nhưng Nguyễn Thị Bích L không trả tiền cọc nên làm đơn tố cáo.

+ Lần 3: Khoảng cuối tháng 6/2023, Nguyễn Thị Bích L tiếp tục giới thiệu bán vườn tràm trên cho anh Nguyễn Thành T2 (sinh năm 1988) trú tại ấp C, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai với số tiền 119.000.000 đồng, Nguyễn Thị Bích L đưa anh T2 và anh Huỳnh Văn D1 (bạn của anh T2) đi xem và chỉ địa giới vườn tràm, anh T2 đồng ý mua. Ngày 02/7/2023, anh T2 và anh D1 đến nhà Nguyễn Thị Bích L ký giấy tay mua bán với số tiền 119.000.000 đồng và làm hợp đồng đặt cọc số tiền 10.000.000 đồng, hẹn 15 ngày sau sẽ cưa cây tràm, trước khi cưa cây tràm anh T2

sẽ đưa thêm cho Nguyễn Thị Bích L 60.000.000 đồng. Ngày 04/7/2023, anh T2 và anh D1 đến gặp Nguyễn Thị Bích L đưa thêm 60.000.000đ để tiến hành cưa cây tràm. Tất cả đồng ý ký nhận vào hợp đồng mua bán cây tràm mà hai bên đã lập vào ngày 02/7/2023. Tổng cộng Nguyễn Thị Bích L đã nhận của anh T2 số tiền 70.000.000 đồng. Đến ngày 07/7/2023, anh T2 thuê người đến cưa cây tràm thì bà Nguyễn Thị Kim L2 phát hiện đến báo Công an xã P. Anh T2 yêu cầu Nguyễn Thị Bích L trả lại số tiền 70.000.000 đồng đặt cọc nhưng Nguyễn Thị Bích L không trả nên anh T2 làm đơn tố cáo.

+ Lần 4: Ngày 26/6/2024, Nguyễn Thị Bích L tiếp tục chào bán vườn tràm trên cho ông Trần Công D (sinh năm 1967) trú tại tổ G, ấp V, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai với số tiền 215.000.000 đồng. Sau khi xem tràm xong, hai bên thỏa thuận viết giấy mua bán tràm, ông D đặt cọc trước số tiền 20.000.000 đồng và hẹn đến ngày 14/7/2024 sẽ trả hết số tiền còn lại. Đến ngày 14/7/2024 ông D trả hết số tiền còn lại 195.000.000 đồng và viết vào phần sau của giấy mua bán. Đến ngày 26/7/2023, ông D thuê người đến cưa cây tràm thì bị Công an xã P ngăn chặn, ông D yêu cầu Nguyễn Thị Bích L trả lại số tiền 215.000.000 đồng đã trả tiền mua tràm nhưng Nguyễn Thị Bích L không trả nên ông D làm đơn tố cáo .

Tang vật thu giữ: Không có.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng số 21/CT-VKSNT ngày 03/01/2025, đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích L mức án từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù.

* Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, các bị hại Nguyễn Văn G, Nguyễn Thành T2 khai nhận đã nhận lại tiền do gia đình bị cáo khắc phục. Cụ thể: Ông G đã nhận lại 45.000.000 đồng, không yêu cầu bị cáo phải trả tiếp số tiền 55.000.000 đồng còn lại; ông Nguyễn Thành T2 đã nhận lại đủ số tiền 70.000.000 đồng và cũng không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo nên không đề cập tới. Riêng ông Trần Công D đã nhận lại được số tiền 110.000.000 đồng, còn lại số tiền 105.000.000 đồng nhưng ông D chỉ yêu cầu bị cáo phải trả lại cho ông D số tiền 90.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 579, Điều 580 Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích L phải trả lại số tiền 90.000.000 đồng cho ông Trần Công D mà bị cáo đã chiếm đoạt theo quy định pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Bích L không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKSNT ngày 03/01/2025. Bị cáo tranh luận không đồng ý với bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, cho rằng diện tích đất tranh chấp là của mình được thừa kế thì có quyền bán cây tràm trên đất. Bị

cáo không đồng ý việc xét xử đối với bị cáo và không nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Xét các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai, của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và không bị khiếu nại nên các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Bích L không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, tuy nhiên qua lời khai bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác thu thập tại hồ sơ vụ án. Cho thấy: Trong thời gian từ tháng 5 năm 2022 đến ngày 04/7/2023, tại xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nguyễn Thị Bích L đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra thông tin sai sự thật để bán vườn tràm trên các thửa đất số 175, 176, 177 tờ bản đồ số 29 xã P và vườn tràm trên thửa đất số 71, 72, 101 tờ bản đồ số 29 xã P (tương ứng thửa đất số 223 tờ bản đồ số 9, bản đồ thành lập năm 1996) không phải do mình trồng, làm chủ cho các bị hại nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tổng số tiền là 385.000.000 đồng, cụ thể:

+ Bán cho ông Nguyễn Văn G, chiếm đoạt số tiền 100.000.000 đồng vào tháng 5/2022;

+ Bán cho anh Nguyễn Thành T2, chiếm đoạt số tiền 70.000.000 đồng vào tháng 7/2023;

+ Bán cho ông Trần Công D, chiếm đoạt số tiền 215.000.000 đồng vào ngày 14/7/2024.

Bị cáo đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đã thực hiện hoàn thành hành vi phạm tội nên có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc H1 đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Vì vậy bản Cáo trạng số 21/CT-VKSNT ngày 03/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo về tội danh và áp dụng điều luật theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là phù hợp, có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trở lên, thuộc trường hợp quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Tội phạm mà bị cáo Nguyễn Thị Bích L thực hiện là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo đã cố ý dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra thông tin giả vườn tràm trên các thửa đất số 175, 176, 177 tờ bản đồ số 29 xã P và vườn tràm trên thửa đất số 71, 72, 101 tờ bản đồ số 29 xã P (tương ứng thửa đất số 223 tờ bản đồ số 9, bản đồ thành lập năm 1996) là của bị cáo trong khi vườn tràm không phải của bị cáo, làm cho các bị hại tin nhầm giao tài sản (tiền) cho bị cáo để bị cáo chiếm đoạt với tổng số tiền 385.000.000 đồng. Tại phiên tòa, tuy bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhưng đã thừa nhận vườn tràm trồng trên các thửa đất bán cho các bị hại không phải của bị cáo trồng mà do bà Nguyễn Thị Kim L2 trồng. Đồng thời, hành vi phạm tội của bị cáo đã được Cơ quan Cảnh sát Điều tra chứng minh qua công tác thu thập tài liệu chứng cứ thể hiện tại bản khai của bị cáo (Bút lục số 133) thừa nhận vườn tràm là do bà Nguyễn Thị Kim L2 trồng, không phải của bị cáo trồng. Hơn nữa, quá trình điều tra cũng thể hiện ngay từ lần đầu tiên vào đầu tháng 12/2014, khi bị cáo Nguyễn Thị Bích L bán cây tràm cho ông Phạm Văn H (sinh năm 1980) trú tại ấp V, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai với số tiền 30.000.000 đồng. Ông H đưa trước cho Nguyễn Thị Bích L số tiền 10.000.000 đồng, khi nào cưa cây thì sẽ đưa hết 20.000.000 đồng còn lại để tiến hành cưa cây tràm, ông H thuê người đến cưa cây thì bị bà Nguyễn Thị Kim L2 ngăn chặn không cho cưa. Ông H yêu cầu Nguyễn Thị Bích L trả lại tiền cọc nhưng không trả, do số tiền ít nên ông H không làm đơn trình báo và không yêu cầu bồi thường. Lẽ ra, lúc này bị cáo phải chấm dứt ngay hành vi phạm tội, nhận thức việc làm sai trái của mình để hoàn trả lại tiền cho ông H nhưng vì lòng tham nên bị cáo đã bất chấp chiếm đoạt luôn số tiền 10.000.000 đồng của ông H và tiếp sau đó đã dùng thủ đoạn gian dối để thực hiện tiếp hành vi lừa đảo với 03 bị hại khác theo như tình tiết, diễn biến tại phiên tòa và Cáo trạng đã nêu thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (Phạm tội 02 lần trở lên) quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Thêm vào đó, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; bị cáo luôn chống đối, không hợp tác với các cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, không nhận các văn bản tố tụng được giao, tại phiên tòa đã có hành vi la lối, gây rối trật tự phiên tòa, không chấp hành sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa, thể hiện ý thức xem thường pháp luật nên cần phải xử lý nghiêm khắc mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo có nhân thân tốt, đã thành khẩn khai báo; bị cáo có mẹ ruột (bà Lê Thị T) được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ Hạng 3; gia đình bị cáo đã khắc phục phần nào thiệt hại; các bị hại Nguyễn Văn G, Trần Công D có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch về tội danh và hình phạt áp dụng đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Đối với hành vi lừa đảo của Nguyễn Thị Bích L về bán cây tràm cho ông Phạm Văn H (sinh năm 1980) trú tại ấp V, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai với số tiền 10.000.000 đồng xảy ra vào tháng 12 năm 2014. Căn cứ theo quy định tại Điều 27 Bộ luật hình sự thì đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên không đề cập tới.

Tại phiên tòa hôm nay, bà Nguyễn Thị Kim L2 không có ý kiến gì đối với các cây tràm bị cưa hạ nên không đề cập tới.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã khắc phục trả lại số tiền chiếm đoạt cho các bị hại Nguyễn Văn G, Nguyễn Thành T2. Cụ thể: Ông G đã nhận lại 45.000.000 đồng, không yêu cầu bị cáo phải trả tiếp số tiền 55.000.000 đồng còn lại; ông Nguyễn Thành T2 đã nhận lại đủ số tiền 70.000.000 đồng và cũng không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Riêng ông Trần Công D cũng đã nhận lại được số tiền 110.000.000 đồng do gia đình bị cáo khắc phục, còn lại số tiền 105.000.000 đồng nhưng ông D chỉ yêu cầu bị cáo phải trả lại cho ông D số tiền 90.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận và cần buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích L phải trả lại số tiền 90.000.000 đồng cho ông Trần Công D mà bị cáo đã chiếm đoạt theo quy định pháp luật.

[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Tại thời điểm xét xử, bị cáo Nguyễn Thị Bích L chưa đủ 60 tuổi nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 326, 327 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích L (tên gọi khác: Mười L1) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1. Hình phạt:

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Bích L (tên gọi khác: M) – 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 579, 580 Bộ luật Dân sự.

Xử: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích L phải trả lại số tiền chiếm đoạt cho bị hại Trần Công D (sinh năm 1967) trú tại tổ G, ấp V, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai số tiền 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 4.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án biết được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Phạm Văn H được quyền kháng cáo Bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt, niêm yết hợp lệ Bản án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người liên quan;
  • - VKS NT, THANT;
  • - Phân trại TG KV Nhơn Trạch, Trại TG CA tỉnh Đồng Nai, Phòng hồ sơ nghiệp vụ CAT (PV 06);
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp (Nơi bị cáo đăng ký HKTT);
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Dương Hữu Chí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 73/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong thời gian từ tháng 5 năm 2022 đến ngày 04/7/2023, tại xã Phú Hội, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai; Nguyễn Thị Bích Loan đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra thông tin sai sự thật để bán vườn tràm trên các thửa đất số 175, 176, 177 tờ bản đồ số 29 xã Phú Hội và vườn tràm trên thửa đất số 71, 72, 101 tờ bản đồ số 29 xã Phú Hội (tương ứng thửa đất số 223 tờ bản đồ số 9, bản đồ thành lập năm 1996) không phải do mình trồng, làm chủ cho các bị hại nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tổng số tiền là 385.000.000 đồng, cụ thể: + Bán cho ông Nguyễn Văn Giáp, chiếm đoạt số tiền 100.000.000 đồng vào tháng 5/2022; + Bán cho anh Nguyễn Thành Thương, chiếm đoạt số tiền 70.000.000 đồng vào tháng 7/2023; + Bán cho ông Trần Công Dương, chiếm đoạt số tiền 215.000.000 đồng vào ngày 14/7/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger