Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/HS-ST

Ngày: 19-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Anh Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Dương;
  2. Ông Nguyễn Văn Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Quang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hiệp – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa: 32/2025/HSST-QĐ ngày 26/02/2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Phạm Thanh P, sinh năm: 2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Số C Đường D, Ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: Như trên; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T, sinh năm: 1976 (chết) và bà Phạm Thị Ngọc C, sinh năm: 1975; anh, chị, em ruột: 02 người kể cả bị cáo; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/10/2024 chuyển tạm giam từ ngày 26/10/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Nguyễn Tấn H, sinh năm: 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Số C Đường D, Ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: Như trên; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn H1, sinh năm: 1968 và bà Phan Thị N, sinh năm: 1967; anh, chị, em ruột: 04 người kể cả bị cáo; vợ: Phan Thị Thúy D, sinh năm: 1999 (đã ly hôn); con: 01 người, sinh năm: 2016; tiền án, tiền sự: Không.
  4. Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/10/2024 chuyển tạm giam từ ngày 26/10/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Bà Lê Thị L, sinh năm: 1977; địa chỉ: Số C N, Ấp A, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  2. Ông Lê Thành D1, sinh năm: 1982; địa chỉ: Số E Đường C, ấp X, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1978; địa chỉ: Số A N, Khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)
  2. Ông Vũ Văn T2, sinh năm: 1990; địa chỉ: Số D Tỉnh lộ 2, Ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
  3. Bà Nguyễn Phạm Thùy T3, sinh năm 2002; địa chỉ: Số D Đường G, ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)
  4. Bà Phạm Thị Ngọc C, sinh năm 1975; địa chỉ: Số C Đường D, Ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)
  5. Bà Trần Ngọc Nữ H2, sinh năm 1995; địa chỉ: Số B đường L, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  6. Ông Nguyễn Tấn H1, sinh năm 1968; địa chỉ: Số C Đường D, Ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 12/10/2024, Phạm Thanh P điều khiển chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số: 59Y3-153.21 đi ngang nhà số C N, Ấp A, xã P, huyện C của bà Lê Thị L thì thấy nhà bà L đang tổ chức tiệc sinh nhật nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 13/10/2024, P điều khiển chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số: 59Y3-153.21 đến nhà bà L. Tại đây, P để xe gắn máy cặp lề đường trước nhà bà L rồi đi bộ vòng ra cửa sau lấy chìa khóa cửa để ở góc nhà mở cửa đột nhập vào bên trong lén lút lấy trộm một chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13 màu đen của ông Lê Thành D1 là em ruột của bà L để ở chân cầu thang của phòng khách. P tiếp tục đột nhập vào phòng ngủ của bà L rồi kéo hộc tủ bàn trang điểm lấy trộm số tiền 72.000.000 đồng (bảy mươi hai triệu đồng), một bóp da bên trong có 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Ngoài ra, bên trong hộc tủ còn có một hộp giấy bên trong chứa 01 chiếc nhẫn trơn vàng 18K, trọng lượng khoảng 05 phân; 01 chiếc nhẫn kiểu vàng 18K, có hột đá màu trắng; 01 chiếc nhẫn trơn vàng 24K, trọng lượng 01 chỉ; 01 chiếc đồng hồ đeo tay nữ màu vàng. Sau khi trộm được tài sản, P lấy tiền trộm được bỏ dưới cốp yên xe rồi điều khiển xe chạy một đoạn cách nhà trên khoảng 300 mét thì dừng lại ở một bãi đất trống. P ném bỏ hộp giấy và đồng hồ đeo nữ vào lùm cây tẩu tán. Sau đó, P lấy bóp da trộm được ra xem thì thấy bên trong có một tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) và nhiều giấy tờ tùy thân. P lấy tờ tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) cất vào trong túi áo khoác, còn cái bóp da Phong cầm trên tay và tiếp tục điều khiển xe đi cách vị trí ném hộp giấy và đồng hồ khoảng 100 mét nữa thì ném bóp da và giấy tờ vào trong một lùm cây để tẩu tán rồi điều khiển xe về nhà ngủ.

Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, P điều khiển chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số: 59Y3-153.21 đến cửa hàng bán quần áo tại số A L, xã T, huyện C của bà Nguyễn Phạm Thùy T3 mua 01 cái quần jeans dài màu xanh hiệu “DOLCE & GABBANA, size 28 và 01 cái áo thun ngắn tay màu trắng, hiệu “BURBERRY” với tổng số tiền 940.000 đồng (chín trăm bốn mươi nghìn đồng). Sau đó, P tiếp tục điều khiển xe đến cửa hàng điện thoại di động hiệu “Top Zone” tại số D Tỉnh lộ 8, thị trấn C, huyện C mua 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 16 Pro 256GB với giá 31.990.000 đồng (ba mươi mốt triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) và mua cục A sạc Apple 20W với giá 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng). Như vậy, tổng số tiền P1 đã sử dụng để mua đồ tại cửa hàng “Top Zone” là 32.440.000 đồng (ba mươi hai triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng). Mua xong, P điều khiển xe đi về nhà.

Đến khoảng 15 giờ 00 phút ngày 14/10/2024, P đi bộ qua nhà của Nguyễn Tấn H chơi. Tại đây, P nhờ H đi bán 03 chiếc nhẫn vàng và hứa sẽ cho H 1.000.000 đồng (một triệu đồng) nếu bán được vàng. Hào biết được 03 chiếc nhẫn vàng là do P trộm mà có nhưng H vẫn đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe gắn máy biển số: 51Z4-2761 mang 03 chiếc nhẫn vàng trên đến tiệm V, tại số A N, thị trấn C, huyện C bán cho ông Nguyễn Văn T1 với giá 16.150.000 đồng (mười sáu triệu một trăm năm mươi nghìn đồng). H đưa cho P 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng) tiền bán vàng và giữ lại 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) để tiêu xài. P đưa lại cho H 1.000.000 đồng (một triệu đồng) như đã hứa.

Đến ngày 16/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C triệu tập Phạm Thanh P và Nguyễn Tấn H đến làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, P và H khai nhận hành vi như đã nêu trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 143/KL-HĐĐGTS ngày 21/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện C kết luận: 01 chiếc nhẫn trơn, loại nhẫn cưới, vàng 18K, trọng lượng 05 phân có trị giá 3.107.550 đồng (ba triệu một trăm linh bảy nghìn năm trăm năm mươi đồng); 01 chiếc nhẫn kiểu vàng 18K, có hột đá màu trắng, không rõ trọng lượng, mua vào năm 2024 nên không định giá được; 01 chiếc nhẫn trơn vàng 24K, trọng lượng 01 chỉ, mua vào năm 2024 có trị giá 8.270.000 đồng (tám triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng); 01 chiếc đồng hồ đeo tay nữ màu vàng, mua vào khoảng năm 2020, không nhớ hiệu nên không định giá được; 01 chiếc điện thoại di động hiệu S A13 có trị giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng); 01 bóp da nam, không rõ hiệu trị giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). Tổng trị giá tài sản định giá là 12.477.550 đồng (mười hai triệu bốn trăm bảy mươi bảy nghìn năm trăm năm mươi đồng).

Vật chứng thu giữ:

  • Thu giữ của Phạm Thanh P:
    • + Tiền Ngân hàng N1: 56.000.000 đồng đã trả lại cho bà Lê Thị L.
    • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 16 Pro 256GB màu đen, 01 hộp điện thoại di động hiệu Iphone bằng giấy và 01 hóa đơn mua điện thoại. Đây là điện thoại mà P dùng tiền trộm được mua sử dụng đã trả lại cho bà Lê Thị L.
    • + 01 áo thun ngắn tay màu trắng, hiệu “BURBERRY” và 01 quần jeans dài màu xanh, hiệu “DOLCE & GABBANA”, size B đã trả lại cho bà Nguyễn Phạm Thùy T3.
    • + 01 quần tây dài màu đen, hiệu “BINKENZO”, size 30 và 01 áo khoác dài tay màu đen, hiệu JULODO, size L.
    • + 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số: 59Y3-153.21, số máy: E3X9E-366438, số khung: RLCUE3210-JY156834 đã trả lại cho bà Phạm Thị Ngọc C là chủ sở hữu.
  • Thu giữ của Nguyễn Tấn H:
    • + Tiền Ngân hàng N1: 1.000.000 đồng là do Phạm Thanh P cho H khi H đi bán vàng cho P. Số tiền này đã trả lại cho bà Lê Thị L.
    • + 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số: 51Z4-2761, số máy: NF100ME-0043210, số khung: NF100M-0043210.
    • + 01 điện thoại đi động hiệu OPPO A31 màu đen, số I: 860646041631655.
  • Thu giữ của ông Vũ Văn T2: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13, số I: 352469857866371. Đây là điện thoại mà P đã bán cho ông T2, đã trả lại cho ông Lê Thành D1.
  • Thu giữ của bà Nguyễn Phạm Thùy T3: Số tiền 940.000 đồng. Đây là số tiền mà P trộm được và sử dụng để thanh toán tiền mua quần áo cho bà T3. Bà T3 không biết do P phạm tội mà có. Số tiền này đã được trả lại cho bà Lê Thị L.

Về phần dân sự:

  • Bị hại bà Lê Thị L và ông Lê Thành D1 không yêu cầu bồi thường.
  • Bà Nguyễn Phạm Thùy T3 không yêu cầu bồi thường.
  • Ông Vũ Văn T2 không yêu cầu giải quyết vấn đề dân sự.

Bản cáo trạng số: 49/CT-VKS.CC ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử bị cáo Phạm Thanh P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Tấn H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Thanh P, Nguyễn Tấn H thừa nhận toàn bộ hành vi của mình và đồng ý với Kết luận định giá tài sản số 143/KL-HĐĐGTS ngày 21/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện C.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hành quyền công tố luận tội và kiểm sát xét xử trình bày tranh luận: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo như bản cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thanh P từ 03 (ba) đến 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản".
  • Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn H từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo P không tranh luận, không tự bào chữa.

Bị cáo H không tranh luận, không tự bào chữa.

Bị cáo P không nói lời nói sau cùng.

Bị cáo H nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái của bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Thanh P và bị cáo Nguyễn Tấn H đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng số 49/CT-VKS.CC ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp và các chứng cứ có tại hồ sơ. Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 13/10/2024 tại số nhà C N, Ấp A, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Phạm Thanh P đã lén lút lấy trộm 72.500.000 đồng tiền Ngân hàng N1; 01 chiếc nhẫn trơn, loại nhẫn cưới vàng 18K, trọng lượng 05 phân có trị giá 3.107.550 đồng; 01 chiếc nhẫn kiểu vàng 18K, có hột đá màu trắng, không rõ trọng lượng, mua vào năm 2024 nên không định giá được; 01 chiếc nhẫn trơn vàng 24K, trọng lượng 01 chỉ, mua vào năm 2024 có trị giá 8.270.000 đồng; 01 chiếc đồng hồ đeo tay nữ màu vàng, mua vào khoảng năm 2020, không nhớ hiệu nên không định giá được; 01 bóp da nam, không rõ hiệu trị giá 100.000 đồng của bà Lê Thị L và 01 chiếc điện thoại di động hiệu S A13 có trị giá 1.000.000 đồng của ông Lê Thành D1. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 84.977.550 đồng.

Nguyễn Tấn H biết rõ 01 chiếc nhẫn trơn, loại nhẫn cưới vàng 18K, trọng lượng 05 phân có trị giá 3.107.550 đồng; 01 chiếc nhẫn kiểu vàng 18K, có hột đá màu trắng, không rõ trọng lượng, mua vào năm 2024 nên không định giá được; 01 chiếc nhẫn trơn vàng 24K, trọng lượng 01 chỉ, mua vào năm 2024 có trị giá 8.270.000 đồng là do Phạm Thanh P phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý đi bán giúp P và được P trả tiền công là 1.000.000 đồng. Tổng trị giá 03 chiếc nhẫn là 11.377.550 đồng.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố các bị cáo Phạm Thanh P và Nguyễn Tấn H là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Thanh P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”; tội danh và hình phạt được quy định điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Tấn H đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; tội danh và hình phạt được quy định khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì mục đích tiêu xài cá nhân mà các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm minh để răn đe, cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội. Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

[3]. Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Phạm Thanh P và Nguyễn Tấn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4]. Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, rêng bị cáo H pham tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Hội dồng xét xử cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và bị cáo H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[5]. Về nhân thân: Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, bị cáo P còn thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” vào ngày 16/7/2023 tại ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An bị Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Long An khởi tố vụ án, khởi tố bị can và đã được Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà phê chuẩn.

[6]. Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Xét thấy bị cáo P và bị cáo H không có thu nhập ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Lê Thị L và Lê Thành D1 không yêu cầu bồi thường. Bà Nguyễn Phạm Thùy T3 không yêu cầu bồi thường và ông Vũ Văn T2không yêu cầu giải quyết vấn đề dân sự; Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.

[8]. Về xử lý vật chứng vụ án:

  • Đối với 01 (một) chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số: 51Z4-2761, đây là phương tiện mà H sử dụng khi gây án. Chiếc xe này là tài sản của ông Nguyễn Tấn H1, do ông H1 bỏ tiền ra mua lại của ông Nguyễn Thành L1. Khi bán xe, ông H1 và ông L1 không lập hợp đồng mua bán mà hai bên chỉ thực hiện một bên giao xe cùng giấy tờ và một bên giao tiền. Khi H sử dụng xe làm phương tiện phạm tội ông H1 không biết. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định trả lại chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số: 51Z4-2761 cho ông Nguyễn Tấn H1 theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Đối với 01 điện thoại đi động hiệu OPPO A31 màu đen, số I: 860646041631655, đây là phương tiện bị cáo H sử dụng liên lạc với P khi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Đối với 01 quần tây dài màu đen, hiệu “BINKENZO”, size 30 và 01 áo khoác dài tay màu đen, hiệu JULODO, size L. Đây là bộ quần áo mà bị cáo P mặc trên người khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không đồng ý nhận lại và không có giá trị sử dụng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Đối với Quyết định xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C:
    • + Trả lại cho bà Lê Thị L số tiền 57.940.000đ (năm mươi bảy triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng), 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 16 Pro 256GB, màu đen và 01 (một) hộp điện thoại di động Iphone 16 bằng giấy.
    • + Trả lại cho ông Lê Thành D1 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13, số I: 352469857866371.
    • + Trả cho bà Nguyễn Phạm Thùy T3 01 (một) áo thun ngắn tay màu trắng, hiệu “BURBERRY” và 01 (một) quần jeans dài màu xanh, hiệu “DOLCE & GABBANA”, size 28.
    • + Trả cho bà Phạm Thị Ngọc C 01 (một) xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số: 59Y3-153.21, số máy: E3X9E-366438, số khung: RLCUE3210-JY156834.

Quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C xử lý vật chứng trả lại tài sản cho những người nêu trên là phù hợp, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.

[8]. Những vấn đề khác của vụ án:

  • Đối với ông Vũ Văn T2 mua điện thoại của Phạm Thanh P nhưng không biết điện thoại do P phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét trách nhiệm hình sự là phù hợp. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.
  • Đối với bà Nguyễn Phạm Thùy T3 bán quần áo cho P nhưng không biết tiền Phong trả là do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét trách nhiệm hình sự là phù hợp; Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.
  • Đối với ông Nguyễn Văn T1 mua vàng của Nguyễn Tấn H nhưng ông T1 không biết vàng do H bán là do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét trách nhiệm hình sự là phù hợp; Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.
  • Đối với bà Trần Ngọc Nữ H2 là nhân viên làm việc tại nơi bán điện thoại cho P không biết tiền Phong trả là do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét trách nhiệm hình sự là phù hợp; Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.

[9]. Về nghĩa vụ chịu án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Đối với bị cáo Phạm Thanh P:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Phạm Thanh P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/10/2024.

[2]. Đối với bị cáo Nguyễn Tấn H:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm s, i khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/10/2024.

[3]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại đi động hiệu OPPO A31 màu đen, số Imei: 860646041631655, đã qua sử dụng của bị cáo H.
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) quần tây dài màu đen, hiệu “BINKENZO”, size 30 và 01 (một) áo khoác dài tay màu đen, hiệu JULODO, size L (đã qua sử dụng).
  • Trả lại cho ông Nguyễn Tấn H1: 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số: 51Z4-2761, số máy: NF100ME-0043210, số khung: NF100M-0043210.

(Các vật chứng trên được liệt kê theo Lệnh nhập kho vật chứng số 4738/LNK-ĐCSHS ngày 14/11/2024; Lệnh nhập kho vật chứng số 103/LNK-ĐCSHS ngày 09/01/2025; Phiếu nhập kho vật chứng số 50/PNK-ĐCSHS ngày 10/01/2025 và Phiếu nhập kho vật chứng số 292/PNK-ĐCSHS ngày 15/11/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C).

[5]. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc các bị cáo Phạm Thanh P và Nguyễn Tấn H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • VKSND huyện Củ Chi;
  • Công an huyện Củ Chi;
  • Chi cục THA DS huyện Củ Chi;
  • Bị cáo, đương sự;
  • Lưu: Văn phòng, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Dương Anh Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 73/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: [1]. Đối với bị cáo Phạm Thanh P: Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản” Xử phạt bị cáo Phạm Thanh P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/10/2024. [2]. Đối với bị cáo Nguyễn Tấn H: Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm s, i khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/10/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger