Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

 

Bản án số: 73/2025/DS-PT

Ngày: 05 - 3 - 2025

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Sâm

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Thuấn

Bà Đinh Thị Tuyết

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Tiến Tài - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Ông Trần Văn Lai - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 437/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 12 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 241/2024/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 07/2025/QĐ-PT ngày 14 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 20/2025/QĐ-PT ngày 22/01/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Minh H, sinh năm: 1977; Địa chỉ: A M, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Đăng D, sinh năm: 1977; Địa chỉ: D T, P. T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

    Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Đình T, sinh năm: 1991. Địa chỉ: 6 T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Giấy ủy quyền đề ngày 27/5/2024 (Có mặt) và bà Phan Thị L, sinh năm 1963. Địa chỉ: B đường P, Tổ C, K, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Giấy ủy quyền đề ngày 17/01/2025 (Có mặt).

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. 1. Bà Lê Thị Uyên P; Địa chỉ: B Đ, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt;

      Đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Uyên P: Bà Nông Thị H1; Địa chỉ: Tầng B, số D L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có đơn xin xét xử vắng mặt.

    2. 2. Ông Nguyễn Văn V; Địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
    3. 3. Bà Lê Thị É; Địa chỉ: A Đ, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
    4. 4. Ông Nguyễn Văn Ú; Địa chỉ: Số G đường A, thôn A, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
    5. 5. Bà Trần Phạm Bích T1; Địa chỉ: D T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt;

      Đại diện theo ủy quyền của bà Trần Phạm Bích T1: Nguyễn Đình T; Địa chỉ: 6 T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

    6. 6. Ông Đào Quang T2, sinh năm: 1958; Địa chỉ: A M, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
  • - Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Đăng D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đỗ Thị Minh H trình bày:

Năm 2018, bà H có nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị Uyên P 611,4 m² đất thuộc thửa số 22, tờ bản đồ số 55, đất tọa lạc tại xã C, thành phố B, theo chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 462619 do Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Đ cấp ngày 07/10/2016; đăng ký biến động chuyển nhượng cho bà P ngày 13/7/2018.

Khi nhận chuyển nhượng trên đất không có tài sản gì, đến khoảng cuối năm 2023 bà H tiến hành xây hàng rào trong quá trình xây móng làm hàng rào bà H phát hiện ra không đúng ranh giới và diện tích đất bà H nhận chuyển nhượng của bà P nên đã dừng việc xây dựng và làm việc với hộ liền kề là anh Nguyễn Đăng D vì theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp thì diện tích đất của bà H được quyền sử dụng còn kéo dài xuống thửa đất của ông D khoảng 3m chiều ngang, dài hết lô đất nhưng ông D không đồng ý mà tiến hành làm hàng rào bằng tôn dựa trên móng đá hộc bà H đang xây dựng dở nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông D trả lại bà H diện tích đất lấn chiếm khoảng 3,2m x 30m.

Về kết quả đo vẽ kỹ thuật thửa đất bà H đồng ý và không có ý kiến gì, về trị giá diện tích đất tranh chấp bà H đồng ý theo kết quả định giá mà hội đồng định giá đã kết luận.

2. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa bị đơn và đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Nguyễn Đình T, bà Phan Thị L trình bày:

Vợ chồng ông D, bà Trần Phạm Bích T1 có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn Ú thửa đất số 201, tờ bản đồ số 55, địa chỉ thửa đất tại xã C, thành phố B, Tỉnh Đắk Lắk, theo hợp đồng số 5710, quyền số 04/2016 ngày 20/6/2016 do Văn phòng C.

Lô đất trên có nguồn gốc do ông Ú nhận chuyển nhượng từ ông Phạm Đông Đ ngày 26/4/2016, sau đó ông Ú tách ra thành 02 thửa (thửa 200 và 201, tờ bản đồ 55). Ông Ú chuyển nhượng cho vợ chồng ông D thửa 201 (diện tích 505.1m²), còn thửa 200 (diện tích 611.4m²), sau đó ông Ú chuyển nhượng cho bà Lê Thị É vào tháng 9/2016, bà É sau đó chuyển nhượng cho bà Lê Thị Uyên P vào tháng 6/2018. Tháng 9/2018, bà P chuyển nhượng tiếp cho bà Đỗ Thị Minh H, bà H sử dụng từ đó cho đến nay.

Tại thời điểm tháng 6/2016, ông Ú bàn giao đất cho vợ chồng ông D theo mốc giới ranh thửa mà ông Ú đã cắm từ trước, không hề có tranh chấp. Sau khi nhận bàn giao thửa đất, vợ chồng ông D tiến hành làm hàng rào và sử dụng ổn định từ đó đến nay không có tranh chấp với bất kỳ ai liền kề. Các hộ bà É, bà P sau khi nhận chuyển nhượng thửa đất 200 đều thống nhất đồng ý với diện tích, ranh thửa, hiện trạng thửa đất và không có tranh chấp.

Tháng 9/2018 Bà H sau khi nhận chuyển nhượng đã tiến hành chôn trụ bê tông và làm hàng rào tôn xung quanh thửa đất số 200.

Đến tháng 02/2023 ông D tiến hành làm hàng rào cho thửa 201 của vợ chồng ông D và sử dụng ổn định từ đó tới nay.

Theo thoả thuận ban đầu về việc mua đất giữa vợ chồng ông D và ông Ú thì vợ chồng ông D mua lô đất diện tích là 20m x 25m (tổng 500m²). Tuy nhiên khi tách thửa thì hiện trạng thửa đất là 17.36m x 28.79m (tổng 505.1m²). Sau đó ông Ú có bàn giao cho vợ chồng ông D hiện trạng là 21m x 28.79m. Nguyên nhân là khi tiến hành đo đạc tách thửa ông Ú đã trừ 3m lộ giới đường sẽ mở rộng và ông D tiếp nhận thửa đất theo đúng hiện trạng như vậy.

Về việc bà H khởi kiện vợ chồng ông D lấn chiếm đất của bà H là hoàn toàn không có căn cứ, bởi các lý do sau:

Bà H nhận chuyển nhượng từ bà P vào thời điểm tháng 9/2018, tại thời điểm nhận chuyển nhượng bà H và bà P đã đo đạc đủ diện tích đất 200 (611.4 m²). Bà H sau đó đã tiến hành làm hàng rào trụ bê tông gắn tôn. Đến tháng 2/2023 vợ chồng ông D mới làm hàng rào từ mép hàng rào của bà H, nên không có chuyện vợ chồng ông D lấn chiếm đất của bà H.

Bà H khởi kiện vợ chồng ông D là lấn chiếm diện tích khoảng 95,328m² tuy nhiên khi tiến hành đo đạc đồng bộ các thửa đất liền kề thì cho thấy các thửa đất đều đủ diện tích, thửa đất số 200 của bà H hoàn toàn không bị thiếu mà ngược lại còn nhiều hơn diện tích trong Giấy chứng nhận, cụ thể là diện tích cạnh phía tây thực tế là 20.1m, trong khi đó trong giấy chứng nhận là 19.61m, như vậy có thể thấy bà H không bị giảm diện tích và phần diện tích tăng từ 19.61m lên 20.1m này hoàn toàn có khả năng là bà H đã lấn sang đất của vợ chồng ông D.

Từ những lý lẽ và chứng cứ xác thực nêu trên hoàn toàn có đầy đủ căn cứ thể hiện ông D không lấn chiếm đất của bà H theo như đơn khởi kiện, ông D đề nghị Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột bác đơn khởi kiện của bà H.

Về kết quả đo vẽ kỹ thuật thửa đất ông D không có ý kiến gì, về trị giá diện tích đất do vợ chồng ông D không lấn chiếm nên không có ý kiến gì.

3. Tại phiên Tòa ông Đào Quang T2 trình bày: Ông là chồng bà Đỗ Thị Minh H, diện tích đất đang tranh chấp với ông D là tài sản riêng của bà H, ông không liên quan gì nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

4. Quá trình giải quyết vụ án bà Lê Thị É trình bày: Khoảng năm 2016, bà É có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn Ú 05 lô đất, mỗi lô có chiều ngang tiếp giáp mặt đường dài 5m, chiều dài kéo dài hết lô đất khoảng 30m; tổng cộng là khoảng 25m x 30m, trong đó có 04 lô có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo GCNQSDĐ số CB 462619, còn 01 lô 5m x 30m không có giấy tờ gì, nhưng ông Ú giao cho bà É 05 lô là 25m mặt đường, có giấy tờ mua bán giấy viết tay ông Ú giữ và bà É đã thanh toán hết số tiền cho ông Ú, khi mua đất của ông Ú trên đất không có tài sản gì.

Sau đó, không có nhu cầu sử dụng nên bà É có ý định chuyển nhượng các lô đất nêu trên thì ông Ú giới thiệu người đến gặp bà É để mua lại thì có 02 người đến mua bà É chỉ biết một người tên P, còn một người tên gì bà É không biết, do bà P mua 03 lô phần được cấp giấy chứng nhận (tiếp giám đất của ông D) còn người kia mua 02 lô, một lô trong giấy chứng nhận còn một lô phía trên chưa có giấy tờ, bà É có thỏa thuận do bà P mua 03 lô nên để bà P đứng tên trên giấy chứng nhận còn người kia khi nào có nhu cầu làm giấy tờ thì bà É hỗ trợ ký giấy tờ cho họ làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi bà É bán đất cho 02 người trên thì ông Ú cúng biết và bàn giao đất cho họ, họ đã thanh toán đủ tiền cho bà É và bà É giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho họ, thời gian đã lâu nên bà É chỉ nhớ có vậy, sau đó họ có bán lại các lô đất trên cho ai hay không thì bà É không rõ.

Nay tòa án triệu tập bà É làm việc liên quan đến các lô đất nêu trên bà É xin từ chối tham gia vì bà É đã chuyển nhượng và bà giao giấy tờ cho họ từ lâu, không có tranh chấp và yêu cầu gì.

5. Quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Uyên P là bà Nông Thị H1 trình bày: Năm 2018, bà Lê Thị Uyên P chuyển nhượng quyền sử dụng đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 462619 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 07/10/2016, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CT 017765 cho bà Đỗ Thị Minh H, thông tin thửa đất như sau: Thửa đất số 22, tờ bản đồ số 55, địa chỉ tại xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, diện tích 611,4m², hình thức sử dụng: sử dụng riêng; mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm; thời hạn sử dụng: 2043; nguồn gốc đất sử dụng: Nhận chuyển nhượng đất được công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất. Phía Nam giáp đất của ông Nguyễn Đăng D, phía Bắc giáp đất của ông Đào Quang H2, phía Tây giáp đất của ông Trần Đình L1.

Việc chuyển nhượng được thực hiện theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, được lập thành văn bản, có chữ ký của các bên, tại thời điểm chuyển nhượng không có bất kỳ tranh chấp gì phát sinh, trên đất không có công trình xây dựng và đất cũng đã được đăng ký biến động cho bà H. Hiện nay, do đã lâu nên bà P không còn giữ hợp đồng chuyển nhượng và bà P đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 241/2024/DS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

- Căn cứ: khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 161, Điều 165, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ: Điều 166, Điều 169, Điều 170, Điều 202, Điều 203 Luật đất đai năm 2013

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

[1] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Minh H V/v buộc vợ chồng ông Nguyễn Đăng D, Trần Phạm Bích T1 trả lại cho bà Đỗ Thị Minh H 106m² đất lấn chiếm có vị trí: Phía Bắc giáp thửa 22, tờ bản đồ: 55 dài 25,61m; Phía Tây: Giáp thửa 23 tờ bản đồ: 55, dài 4,86m; Phía Nam giáp thửa 201 dài 25.58m; Phía Đông giáp đường hẻm dài 3.42m (Theo sơ đồ kỹ thuật thửa đất và sơ đồ lồng ghép tham khảo của thửa đất số 22 và thửa 201; tờ bản đồ số 55, tại xã C, thành phố B ngày 10/7/2024 của Công ty TNHH Đ1).

Buộc vợ chồng ông Nguyễn Đăng D, bà Trần Phạm Bích T1 có nghĩa vụ tháo dỡ hàng rào bằng tôn thiếc và nhà vệ sinh thưng bằng tôn thiếc có chiều cao bình quân 2,4m, dài tổng cộng là 40m trên phần diện tích đất tranh chấp để trả lại diện tích đất tranh chấp cho nguyên đơn bà Đỗ Thị Minh H.

Bà Đỗ Thị Minh H có nghĩa vụ thanh toán cho vợ chồng ông Nguyễn Đăng D số tiền 1.878.000đ (Một triệu, tám trăm bảy mươi tám ngàn đồng) là trị giá các loại cây trồng trên phần diện tích đất tranh chấp.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, các chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/10/2024, bị đơn ông Nguyễn Đăng D kháng cáo toàn bộ đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 241/2024/DS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông Nguyễn Đăng D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đánh giá các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn Đăng D. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 241/2024/DS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn được nộp trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk thụ lý và giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về nguồn gốc đất: Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp nằm giữa thửa đất số 22 ( bà H) và thửa đất số 201 (ông D), tờ bản đồ số 55, địa chỉ thửa đất tại xã C, Thành phố B, Tỉnh Đắk Lắk cụ thể: Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 462619 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp cho bà Lê Thị É ngày 07/10/2016; đăng ký biến động chuyển nhượng cho bà Lê Thị Uyên P ngày 13/7/2018 và đăng ký biến động chuyển nhượng cho bà Đỗ Thị Minh H ngày 02/10/2018 đối với thửa đất số 22, tờ bản đồ số 55, diện tích 611,4m²; còn thửa đất số 201, tờ bản đồ số 55 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 539620 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp cho ông Nguyễn Đăng D và bà Trần Phạm Bích T1 ngày 30/6/2016 có diện tích 505.1m².

Theo lời trình bày của bà Đỗ Thị Minh H, khi nhận chuyển nhượng thửa đất số 22, tờ bản đồ số 55, diện tích 611,4m², trên đất không có tài sản gì, đến cuối năm 2023, bà H tiến hành xây hàng rào thì bà mới phát hiện ra không đúng ranh giới và diện tích đất mà bà đã nhận chuyển nhượng từ bà P, nên bà H đã dừng xây dựng và làm việc với hộ liền kề là anh Nguyễn Đăng D vì theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp thì diện tích đất bà H được quyền sử dụng còn lại kéo dài xuống thửa đất của ông D khoảng 3m chiều ngang dài hết lô đất, nhưng ông D không đồng ý mà tiến hành làm hàng rào bằng tôn dựa trên móng hàng rào đá hộc bà H đang xây dựng dở nên nay bà H yêu cầu buộc ông D Trả lại cho bà H diện tích đất lấn chiếm 108,9m².

Theo lời trình bày của ông Nguyễn Đăng D, vợ chồng ông D có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn Ú thửa đất số 201, tờ bản đồ số 55. Theo thỏa thuận ban đầu về việc mua đất giữa vợ chồng ông D và ông Ú thì vợ chồng ông D mua lô đất có diện tích là 20m x 25m (tổng 500m²). Tuy nhiên, khi tách thửa thì hiện trạng thửa đất là 17.36m x 28.79m (tổng 505.1m²). Sau đó, ông Ú đã bàn giao cho vợ chồng ông D hiện trạng là 21m x 28.79m. Nguyên nhân là khi tiến hành đo đạc tách thửa ông Ú đã trừ 3m lộ giới đường sẽ mở rộng và ông D tiếp nhận thửa đất theo đúng hiện trạng như vậy. Nay bà H khởi kiện vợ chồng ông D lấn chiếm diện tích, tuy nhiên khi tiến hành đo đạc đồng bộ các thửa đất đều đủ diện tích, thửa đất số 22 của bà H hoàn toàn không bị thiếu mà ngược lại còn nhiều hơn diện tích trong giấy chứng nhận, cụ thể là diện tích cạnh phía tây thực tế là 20.1m, trong khi đó trong giấy chứng nhận là 19.61m, như vậy có thể thấy bà H không bị giảm diện tích, mà diện tích tăng từ 19.61m lên 20.1m này hoàn toàn có khả năng bà H đã lấn sang đất của vợ chồng ông D. Do đó, không có việc ông D lấn chiếm đất của bà H.

Theo lời trình bày của ông Nguyễn Văn Ú, vào năm 2015 ông Ú có nhận chuyển nhượng của ông Phạm Đông Đ một thửa đất có diện tích 1.748m². Sau đó ông Ú tách làm hai thửa, thửa thứ nhất thuộc tờ bản đồ số 55, thửa đất số 33 chiều ngang là 20m², chiều dài là 30,85m², tổng diện tích là 631,7m², nay là sỡ hữu của ông V. Thửa thứ hai thuộc thửa đất số 22, tờ bản đồ số 55, tổng diện tích là 1.116,5m², chiều ngang phía đông lô đất là 45,29m, chiều dài 28.79m. Vào năm 2016, ông Ú có bán cho ông Nguyễn Đăng D thửa đất số 22, tờ bản đồ số 55 có chiều ngang là 20m, chiều dài là 26,5m. Tuy nhiên, khi ông Ú tách thửa diện tích có thay đổi và ông Ú đã trao đổi với ông D hiện nay diện tích chỉ còn 17,36m chiều ngang, chiều dài không thay đổi. Khi giao đất cho ông D, ông Ú đã bàn giao toàn bộ số đất còn lại cho ông D, thửa đất còn lại ông Ú sang nhượng cho bà É với chiều ngang là 20m giáp phía đông, chiều dài là 28,79m. Do diện tích đất rộng hơn so với thực tế nên ông Ú viết thêm cho bà É 5m nữa, tổng cộng là 25m chiều ngang giáp hướng đông. Khi giao đất cho bà É, ông Ú có mời ông D đo đạc và cắm mốc, ông D và bà É nhất trí với diện tích của mình.

Căn cứ biên bản xác minh nguồn gốc đất ngày 12/7/2024 tại Ủy ban nhân dân xã C, thành phố B thể hiện: Bà H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2018, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 462619 do Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày 07/10/2016 tại thửa đất số 22, tờ bản đồ số 55 kích thước 19,61 x 29,79m; ông Nguyễn Đăng D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 539620 do Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày 30/6/2016 thửa đất số 201 tờ bản đồ số 55, hiện tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện kích thước 17,36m x 28,80m. Ông D cung cấp giấy cam kết viết tay lập cùng thời điểm mua bán năm 2016 giữa ông Ú và ông D trên giấy thể hiện kích thước thửa đất nhận chuyển nhượng là 21m x 28,79m.

Căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và Kết quả đo vẽ kỹ thuật thửa đất ngày 10/7/2024 của Công ty TNHH Đ1, sơ đồ lồng ghép tham khảo và hiện trạng sử dụng đất thể hiện: Thửa đất số 22 của bà H có diện tích thực tế là 424,1m², bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có cạnh giáp đường dài 16,18m (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 19,61m thiếu 3,43m; thửa đất số 201 có diện tích thực tế 558,6m² dư so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cạnh giáp đất dài 20,84m (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cạnh dài 17,36m).

Tại kết quả đo vẽ kỹ thuật thửa đất ngày 13/02/2025 của Công ty TNHH Đ1 cũng thể hiện diện tích đất thực tế đang sử dụng của bà H đang bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp và diện tích đất sử dụng thực tế của ông D đang bị dư so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp.

Như vậy, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả lại diện tích đất 106m² có tứ cận các cạnh theo Kết quả đo vẽ kỹ thuật thửa đất ngày 10/7/2024 của Công ty TNHH Đ1 và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ.

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 23/7/2024 thể hiện: Trên đất có 02 cây dừa, 04 bụi chuối, 14 cây mai, 14 trụ bê tông cốt thép xung quanh rào tôn thiếc. Vì vậy:

Buộc bị đơn phải tháo dỡ hàng rào, nhà vệ sinh trên phần diện tích đất tranh chấp là phù hợp.

Buộc nguyên đơn phải thanh toán cho bị đơn giá trị cây trồng trên đất có giá 1.478.000 đồng gồm 02 cây dừa, 04 bụi chuối, 14 cây mai; nguyên đơn được sỡ hữu đối với các tài sản này.

Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy nội dung kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đăng D là không có cơ sở để chấp nhận, cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 241/2024/DS-ST ngày 19/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột là phù hợp.

[3] Về chi phí tố tụng: Do kháng cáo của ông Nguyễn Đăng D không được chấp nhận nên ông D phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng theo quy định.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Đăng D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đăng D.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 241/2024/DS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Điều luật áp dụng:

  • - Căn cứ: khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 161, Điều 165, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Căn cứ: Điều 166, Điều 169, Điều 170, Điều 202, Điều 203 Luật đất đai năm 2013
  • - Căn cứ: Khoản 1 Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

[3] Tuyên xử:

[3.1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Minh H V/v buộc vợ chồng ông Nguyễn Đăng D, bà Trần Phạm Bích T1 trả lại cho bà Đỗ Thị Minh H 106m² đất lấn chiếm có vị trí: Phía Bắc giáp thửa 22, tờ bản đồ: 55 dài 25,61m; Phía Tây: Giáp thửa 23 tờ bản đồ: 55, dài 4,86m; Phía Nam giáp thửa 201 dài 25.58m; Phía Đông giáp đường hẻm dài 3.42m (Theo sơ đồ kỹ thuật thửa đất và sơ đồ lồng ghép tham khảo của thửa đất số 22 và thửa 201; tờ bản đồ số 55, tại xã C, thành phố B ngày 10/7/2024 của Công ty TNHH Đ1).

Buộc vợ chồng ông Nguyễn Đăng D, bà Trần Phạm Bích T1 có nghĩa vụ tháo dỡ hàng rào bằng tôn thiếc và nhà vệ sinh thưng bằng tôn thiếc có chiều cao bình quân 2,4m, dài tổng cộng là 40m trên phần diện tích đất tranh chấp để trả lại diện tích đất tranh chấp cho nguyên đơn bà Đỗ Thị Minh H.

Bà Đỗ Thị Minh H có nghĩa vụ thanh toán cho vợ chồng ông Nguyễn Đăng D số tiền 1.878.000đ (Một triệu, tám trăm bảy mươi tám ngàn đồng) là trị giá các loại cây trồng trên phần diện tích đất tranh chấp.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.

[3.2] Về chi phí tố tụng:

  • - Vợ chồng ông Nguyễn Đăng D, bà Trần Phạm Bích T1 phải chịu chi phí đo vẽ kỹ thuật thửa đất là 4.410.000₫ (Bốn triệu, bốn trăm mười ngàn đồng), chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng chẵn) và chi phí định giá tài sản là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng chẵn) và chi phí sử dụng khai thác thông tin địa chính là: 1.800.000đ (Một triệu tám trăm ngàn đồng).
  • Nguyên đơn bà Đỗ Thị Minh H được nhận lại chi phí đo vẽ kỹ thuật thửa đất là 4.410.000đ (Bốn triệu, bốn trăm mười ngàn đồng), chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng chẵn); chi phí định giá tài sản là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng chẵn) và chi phí sử dụng khai thác thông tin địa chính là:1.800.000đ (Một triệu tám trăm ngàn đồng) sau khi thu được của vợ chồng ông Nguyễn Đăng D, bà Trần Phạm Bích T1.
  • - Ông Nguyễn Đăng D phải chịu 4.500.000₫ (Bốn triệu năm trăm ngàn đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ lần 2 (Đã chi phí xong).

[3.3] Về án phí:

[3.3.1] Án phí dân sự sơ thẩm: Vợ chồng ông Nguyễn Đăng D, bà Trần Phạm Bích T1 phải chịu: 4.770.000₫ (Bốn triệu, bảy trăm bảy mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn bà Đỗ Thị Minh H không phải chịu án phí, được nhận lại 3.750.000₫ (Ba triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0009937 ngày 24/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk sau khi thu được của vợ chồng ông Nguyễn Đăng D, bà Trần Phạm Bích T1.

[3.3.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Đăng D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0013811 ngày 16/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND TP. Buôn Ma Thuột;
  • - Chi cục THADS TP. Buôn Ma Thuột;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(đã ký)

Nguyễn Ngọc Sâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/DS-PT ngày 05/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 73/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đăng D, giữ nguyên án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger