|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 73/2025/HS-ST Ngày: 25-02-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Công
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Văn Hòa.
Bà Nguyễn Thị Viết sáu.
Thư ký phiên tòa: Ông Biện Anh Huy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: - Ông Chu Đức Thọ, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 107/2024/HSST ngày 21 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 271/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa 287/2024/HSST-QĐ ngày 27/9/2024, Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 60/TB-TA ngày 24/01/2025; đối với bị cáo:
-
Nguyễn Hoàng H (B), Giới tính: Nam, sinh ngày 25/3/1999, tại Bình Thuận. Nơi thường trú: Khu phố B, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Nơi ở hiện tại: Khu phố C, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 11/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1977 và bà Hoàng Thị T, sinh năm 1979. Anh chị em ruột: Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/11/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Lê Văn H1 (Nóc), Giới tính: Nam, sinh ngày 01/9/1994, tại Bình Thuận. Nơi thường trú và chỗ ở: Khu phố C, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 6/12. Nghề nghiệp: Làm thuê. Con ông Lê Văn M, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1960. Anh chị em ruột: Gia đình có 04 người con, bị cáo là con thứ tư trong gia đình. Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/11/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Võ Đình S, Giới tính: Nam, sinh ngày 06/7/2001, tại Bình Thuận. Nơi thường trú và chỗ ở: Khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm thuê. Con ông Võ Đình S1, sinh năm 1978 và bà Huỳnh Thị Chí L1, sinh năm 1978. Anh chị em ruột: Gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.
Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/11/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Thanh T2, Giới tính: Nam, sinh ngày 08/4/2002, tại Bình Thuận. Nơi thường trú và chỗ ở: Khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm thuê. Con ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1964 và bà Trương Thị T3, sinh năm 1975. Anh chị em ruột: Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/11/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Võ Thị Cẩm V, Giới tính: Nữ, sinh ngày 16/5/1995, tại Bình Thuận. Nơi thường trú: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Chỗ ở: A N, khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Làm thuê. Con ông Võ Quốc V1, sinh năm 1957 và bà Phạm Thị C, sinh năm 1966. Anh chị em ruột: Gia đình có 04 người con, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình. Chồng: không rõ. Con: Võ Hà Tố M1, sinh năm 2022
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/12/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Phạm Văn N, Giới tính: Nam, sinh ngày 04/8/2004, tại Bình Thuận. Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 10/12. Nghề nghiệp: Làm thuê. Con ông Phạm Văn T4, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Kim L2, sinh năm 1975. Anh chị em ruột: Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 27/6/2024, Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tuyên phạt 01 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” theo Bản án số 66/2024/HSST.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/11/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Văn N1, Giới tính: Nam, sinh ngày 23/4/2002, tại Bình Thuận Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Thợ mộc. Con ông: Không rõ và bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1970. Anh chị em ruột: Gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình. Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 07/02/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tuyên phạt 07 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số: 02/2020/HS-ST, chấp hành xong hình phạt ngày 21/08/2020 (không tính án tích do thời điểm phạm tội N1 là người dưới 18 tuổi, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng).
- Ngày 05/8/2021 bị, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm, tuyên phạt 12 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” theo Bản án số 91/2022/HS-PT ngày, chấp hành xong hình phạt tù 05/07/2023.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/11/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Đặng Ngọc T6, Giới tính: Nam, sinh ngày 28/8/2000, tại Bình Thuận. Nơi thường trú và chỗ ở: thôn U, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Làm thuê. Con ông Đặng Ngọc T7, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1972. Anh chị em ruột: Gia đình có 05 người con, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình. Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/11/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Đỗ Ngọc Q, Giới tính: Nam, sinh ngày 02/10/2001, tại Bình Thuận. Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Làm thuê. Con ông Đỗ Văn C1, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1970. Anh chị em ruột: Gia đình có 05 người con, bị cáo là con thứ 5 trong gia đình. Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 20/01/2022, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm, tuyên phạt 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tổ chức đánh bạc” theo Bản án số 04/2022/HS-PT.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/11/2023 và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Huỳnh Ngọc H4, Giới tính: Nam, sinh ngày 23/2/2004, tại Bình Thuận. Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Làm thuê. Con ông Huỳnh Văn T8, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1976. Anh chị em ruột: Gia đình có 3 người con, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình.Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/11/2023 và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Lê Trường A, Giới tính: Nam, sinh ngày 24/10/2003, tại Bình Thuận. Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Làm thuê. Con ông: Không rõ và bà Lê Thị Kim T9, sinh năm 1982. Anh chị em ruột: Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/11/2023 và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Văn M2, Giới tính: Nam, sinh ngày 11/4/2003, tại Bình Thuận. Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: Công giáo. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm thuê. Con ông: Không rõ và bà Nguyễn Thị C2, sinh năm 1968. Anh chị em ruột: Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình. Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/11/2023 và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Võ Lê Triều C3, Giới tính: Nam, sinh ngày 26/8/2004, tại Bình Thuận Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Làm thuê. Con ông Võ Thanh P, sinh năm 1978 và bà Lê Thị Phương L4, sinh năm 1979. Anh chị em ruột: Gia đình có 04 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/11/2023 và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Trần Văn H5, Giới tính: Nam, sinh ngày 01/02/2001, tại Bình Thuận. Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn U, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Làm thuê. Con ông Nguyễn Văn H6, sinh năm: 1974 và bà Trần Thị H7, sinh năm:1980. Anh chị em ruột: Gia đình có 02 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Vợ, con: chưa có.
Tiền án: Ngày 13/01/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tuyên phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Tổ chức đánh bạc” theo Bản án số 07/2021/HSST. Trong thời gian thử thách, đến ngày 04/03/2021 tiếp tục phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, nên ngày 16/09/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 15 tháng tù, tổng hợp hình phạt 12 tháng tù tại Bản án hình sự số 07/2021/HS-ST ngày 13/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận buộc H5 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 27 tháng tù, theo Bản án số: 123/2021/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 05/9/2024.
Tiền sự: không.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Lúc 00 giờ, ngày 25/07/2021, Đội CSĐT tội phạm về ma túy – Công an thành phố P đã phối hợp với Công an phường P, thành phố P tiến hành kiểm tra hành chính nhà nghỉ N2 tại địa chỉ số H đường H, thuộc khu phố A, phường P, thành phố P do bà Trần Thị Diễm T10, sinh năm 1990, trú tại thôn T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai làm chủ, phát hiện tại các phòng số 201, 202, 301 và 302, có nhiều đối tượng đang thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma tuý. Cơ quan Công an đã đưa toàn bộ các đối tượng và tang vật về trụ sở Công an phường P làm việc.
Quá trình điều tra xác định được hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:
Tại phòng số 201:
Khoảng 19 giờ ngày 24/7/2021, Nguyễn Hoàng H (B), Lê Văn H1, Võ Đình S, Nguyễn Thanh T2 cùng nhậu với nhau tại nhà của Nguyễn Hoàng H (B) ở khu phố B, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Trong lúc nhậu thì Nguyễn Hoàng H rủ Lê Văn H1, S, T2 đi “Bay” (tức sử dụng ma túy, nghe nhạc mạnh) thì cả nhóm đều đồng ý và thống nhất để Nguyễn Hoàng H (B) ứng tiền ra trước để mua ma tuý, thuê phòng sử dụng ma tuý, sau khi sử dụng ma túy xong sẽ chia đều tiền với nhau rồi nộp lại cho Nguyễn Hoàng H sau. Nguyễn Hoàng H sử dụng điện thoại của mình gọi một người tên K (không rõ nhân thân) để đặt phòng 201 tại nhà nghỉ N2 và mua ma túy loại Ketamine (tức hàng khay) và ma túy tổng hợp (tức thuốc lắc, kẹo), sau khi gọi xong thì H xóa nhật ký cuộc gọi. Sau đó cả nhóm gồm Nguyễn Hoàng H (B2), Lê Văn H1, Võ Đình S, Nguyễn Thanh T2 đến nhà nghỉ N2 nhận phòng 201, Nguyễn Hoàng H đưa tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cho thanh niên quản lý nhà nghỉ (không rõ nhân thân) nhờ làm ống hút để sử dụng Ketamine. Một lát sau thì thanh niên quản lý đưa đĩa sứ, thẻ nhựa, ống hút (làm bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng) lên phòng 201. Khoảng 20 phút sau, thanh niên quản lý lên phòng gọi Nguyễn Hoàng H xuống lấy “đồ” (tức ma túy). Nguyễn Hoàng H xuống trước cửa nhà nghỉ N2 thì có một thanh niên (không rõ nhân thân) gọi Nguyễn Hoàng H đến và hỏi “đặt đồ đúng không?”, Nguyễn Hoàng H gật đầu thì người này đưa ma túy gồm 02 viện kẹo (thuốc lắc) và 01 bịch hàng Khay (Ketamine) cho Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Hoàng H trả cho người này số tiền 3.600.000 đồng rồi Nguyễn Hoàng H đưa ma túy lên phòng 201 bỏ vào đĩa sứ (có sẵn trong phòng) cho cả nhóm cùng sử dụng. Khi sử dụng ma túy, cả 04 người gồm Nguyễn Hoàng H, S, T2, Lê Văn H1 mỗi người tự lấy kẹo bẻ nhỏ ra nuốt trực tiếp và tự “nấu” (tức hơ nóng Ketamine trên đĩa sứ bằng bật lửa, sau đó dùng thẻ nhựa cà mịn ra) hàng khay rồi dùng ống hút hít trực tiếp vào mũi. Nguyễn Hoàng H, S, T2, Lê Văn H1 sử dụng hết toàn bộ số ma túy trên rồi nằm nghe nhạc, trong lúc cả 04 bị cáo đang nằm nghe nhạc thì Nguyễn Hoàng H gọi điện cho Nguyễn Trần Quế A1, sinh năm 1999, trú tại khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận hỏi mua 02 cái Vape (thuốc lá điện tử), hẹn giao tại phòng 201 nhà nghỉ N2. Khoảng 00 giờ ngày 25/7/2021, khi Quế A1 vừa đến phòng 201 giao thuốc lá điện tử thì ngay lúc này thì lực lượng Công an vào kiểm tra, phát hiện, thu giữ tang vật liên quan.
Vật chứng thu giữ tại phòng 201:
- 01 đĩa sứ; 01 bật lửa; 01 loa nghe nhạc; 01 đèn chiếu sáng (các bị cáo khai có sẵn trong phòng 201);
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng có gắn sim số [...] của Nguyễn Hoàng H;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu trắng, bên trong chứa sim số [...] thu giữ của Lê Văn H1;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS MAX màu đen và 01 xe mô tô 86B2-188.18 thu giữ của Nguyễn Thanh T2;
- 01 điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, hiệu Iphone XS MAX màu vàng, và 01 xe mô tô 86C1-380.69 thu giữ của Võ Đình S;
Tại phòng 202:
Vào lúc 22 giờ 00 ngày 24/07/2021, Lê Văn T11, sinh năm 1988, trú tại khu phố D, phường L, thành phố P, Bình Thuận và Lê Quang T12, sinh năm 1984, trú tại khu phố D, phường B, thành phố P, Bình Thuận đang nhậu cùng nhau thì T11 gọi điện thoại cho Võ Thị Cẩm V rủ nhậu cùng, do V không uống bia được nên nói với T11, khi nào nhậu xong qua đi “Bay” (tức sử dụng ma túy, nghe nhạc mạnh) với V thì T11 đồng ý. Sau khi nói chuyện với T11, V nhờ người quen ở gần phòng trọ tên Nguyễn Chí B, sinh năm 2003, trú tại khu phố A, phường Đ, thành phố P đặt phòng bay và ma túy gồm “nửa hộp năm hàng khay”, 04 bốn con “kẹo” thì B đồng ý. Sau đó B nói lại với V là đặt được phòng bay số 202 bên nhà nghỉ N2, còn ma túy thì sẽ có người qua giao sau. Sau đó V gọi điện thoại báo số phòng 202 và chỉ đường cho T11 và T12 qua nhà nghỉ N2. Khi V đến phòng 202 thì thấy T11 và T12 đã ở trong phòng, trong phòng đã có sẵn loa, đèn, dĩa sứ, nước ngọt, quẹt ga, thẻ nhựa, ống hút... V ngồi nói chuyện với T12 và T11 được khoảng 10 phút thì có người nam thanh niên (không rõ nhân thân) là quản lý của nhà nghỉ Ngọc L5 lên phòng và nói với V là có người ở dưới gặp. V xuống gặp một người thanh niên không rõ họ tên và địa chỉ, người này đưa ma túy cho V số ma túy gồm “nửa hộp năm hàng khay” và “04 con kẹo” (ma túy tổng hợp) chứa trong túi nylon không màu có khóa kéo để trong vỏ bao thuốc lá 555, V nhận ma túy rồi đem lên phòng 202. Khi lên phòng 202, V để toàn bộ số ma túy vừa nhận trên nệm, T11 và T12 tự bẻ 02 viên ma túy tổng hợp ra rồi sử dụng. Đối với số ma túy “khay”, V đổ một ít lên đĩa sứ một ít rồi nấu (tức hơ nóng ma túy khay trên dĩa sứ bằng quẹt ga rồi dùng thẻ nhựa cà mịn ra để hít) và chia thành nhiều đường nhỏ trên đĩa sứ, V tự lấy ống hút sử dụng ma túy “khay” sau đó T12 và T11 tự lấy ống hút sử dụng. Số ma túy tổng hợp và khay còn lại trong gói nylon có khóa kéo V bỏ vào lại trong vỏ bao thuốc lá 555 rồi để trên nệm. Khi V đang chỉnh đèn trong phòng cho đỡ chói thì bị lực lượng Công an vào kiểm tra, phát hiện và bắt giữ.
Vật chứng thu giữ tại phòng 202:
Thu giữ trên giường trong phòng 202:
- 01 vỏ bao thuốc lá 555 bên trong có:
- 01 gói nylon không màu, có khóa kéo một đầu, kích thước (03x04)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (các bị can khai nhận là Ketamine, ký hiệu M1 khi giám định);
- 01 gói nylon không màu, có khóa kéo một đầu, kích thước (03x04)cm, bên trong có 02 viên nén màu tím hình viên kim cương và chất bột màu tím ( các bị can khai nhận là thuốc lắc, được ký hiệu M2 khi giám định);
- 01 đĩa sứ bên trên có chứa:
- 01 tờ tiền ngân hàng N3 mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn và xỏ vào 3 vỏ của điếu thuốc lá 555,
- 01 thẻ nhựa màu xanh, trên thẻ có dòng chữ T18,
- 01 bật lửa,
- Chất bột màu trắng (chất bột này được cho vào túi nylon không màu, có khóa nhựa kéo một đầu, kích thước (12x17,5)cm, các bị cáo đều khai nhận là Ketamine, được ký hiệu M3 khi giám định);
Thu giữ trên nền nhà trong phòng 202)
- 01 bộ loa nhãn hiệu ENKO, 01 bộ đèn chiếu sáng màu đen (các bị cáo khai có sẵn trong phòng 302)
- 01 điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, hiệu Oppo màu trắng tím, chứa sim số 0969312381, thu giữ của Võ Thị Cẩm V.
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đã triệu tập làm việc đối với Nguyễn Chí B, tiến hành đối chất giữa B và V, tuy nhiên B không thừa nhận đặt phòng và mua ma túy giúp cho V. B khai chỉ được người tên H1 (không rõ nhân thân, là bạn trai của V) nhờ đặt phòng bay, sau đó bảo cho H1 số điện thoại của một người bạn của B để H1 tự liên hệ đặt phòng bay và ma túy. V khai nhờ B đặt phòng và mua giúp “04 viên kẹo” và “nửa hộp năm hàng khay” giá 3.000.000 đồng thì được B báo lại là đã đặt được phòng ở nhà nghỉ N2, ma túy thì sẽ có người giao sau. Do bị Công an bắt nên V vẫn chưa trả tiền ma túy cho B.
Tại phòng 302:
Vào khoảng 19 giờ 00 ngày 24/7/2021, Phạm Văn N tổ chức tiệc sinh nhật tại nhà ở thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, cùng tham gia có Nguyễn Thị Kim T13, sinh ngày 26/02/2001, trú tại: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, Trần Văn H5, Huỳnh Ngọc H4, Võ Lê Triều C3, Nguyễn Văn M2, Đặng Ngọc T6, Lê Anh H8, Lê Trường A, Nguyễn Văn N1 và Đỗ Ngọc Q. Đến khoảng 21 giờ 30, N rủ cả nhóm đi “Bay” (tức sử dụng ma túy và nghe nhạc mạnh) thì tất cả đều đồng ý và thống nhất là cùng nhau góp tiền đưa cho N để cùng thuê phòng, mua ma túy sử dụng. C3 góp 700.000 đồng (Bảy trăm ngàn đồng), H4 góp 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), M2 góp 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), A góp 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng), H5 góp 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), T6 góp 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng), H8 góp 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm ngàn đồng), N1 góp 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), Q góp 1.000.000 đồng (do Q không có tiền nên mượn N trước, thoả thuận sang ngày hôm sau Q sẽ trả lại cho N), N cũng bỏ ra 1.000.000 đồng để góp chung với cả nhóm, do T13 là nữ nên không phải góp tiền.
Sau khi góp được tổng cộng số tiền là 8.900.000 đồng, N dùng điện thoại đặt “phòng bay” qua tài khoản Facebook M3 tên “H10” (Không rõ họ tên và địa chỉ) thì được người này báo giá là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) một phòng tại nhà nghỉ N2. N đồng ý và tiếp tục dùng điện thoại gọi điện thoại cho một người tên C4 (Hiện N không nhớ số điện thoại, không rõ nhân thân của C4) để đặt mua một hộp năm ma túy “khay” (ketamine) và 05 viên kẹo (thuốc lắc), hẹn giao tại đến nhà nghỉ N2.
Sau khi đặt phòng và ma túy, khoảng 23 giờ cả nhóm cùng nhau đi đến nhà nghỉ N2, N đi vào trước gặp một người thanh niên (không rõ nhân thân) và nói “Em đặt phòng từ anh H4” thì người thanh niên này nói “lên phòng 302”, khi cả nhóm vào phòng 302 thì đã thấy trong phòng có sẵn loa, đèn, dĩa sứ, nước ngọt, nước khoáng, bật lửa.... Khoảng 10 phút sau, N đi xuống tầng trệt gặp một người thanh niên tên C4 nhận hai gói ma túy, trong đó một gói đựng hàng “khay” và một gói đựng 05 viên “kẹo” rồi trả cho C4 7.200.00 đồng, C4 đếm tiền xong, cho N lại 200.000 đồng. Số tiền góp của cả nhóm còn dư lại 1.900.000 đồng N đưa cho người thanh niên (không rõ nhân thân) quản lý nhà nghỉ N2 900.000 đồng để đặt cọc tiền phòng. Còn lại 1.000.000 đồng Nam cất giữ trong túi của mình.
Sau khi nhận ma túy, N đem lên phòng 302, đưa gói hàng “khay” cho N1 lấy ra để N1 “nấu” (tức hơ nóng ma túy trên dĩa sứ và dùng thẻ nhựa cà mịn ra để hít vào mũi) rồi kẻ thành nhiều đường nhỏ trên đĩa sứ để các bị can còn lại sử dụng, N tự làm ống để hít “khay” bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng của mình rồi bỏ lên dĩa sứ cho cả nhóm sử dụng (ai sử dụng thì tự lấy ống hít trực tiếp vào mũi), 05 viên “kẹo” Nam bẻ mỗi viên ra làm bốn phần, để lên đĩa sứ để những người trong nhóm ai có nhu cầu sử dụng thì tự lấy sử dụng. Số ma túy còn lại chưa sử dụng hết N1 để ở trong gói nylon có khóa kéo, dưới nền phòng nơi cả nhóm cùng sử dụng ma túy. Cả nhóm cùng nhau sử dụng ma túy, nghe nhạc. Đến khoảng 23 giờ 30 cùng ngày, Võ Lê Triều C3 nhắn tin rủ bạn gái là Lê Như M4 (sinh ngày 10/10/2003, trú tại khu phố C, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận) đến cùng sử dụng ma túy với cả nhóm của C3. Khi cả nhóm đang nằm nghe nhạc thì lúc 00 giờ 00 ngày 25/7/2022 lực Công an vào kiểm tra, thu giữ tang vật liên quan và đưa các bị can về làm việc.
Vật chứng thu giữ trong phòng 302:
- 01 gói nylon không màu, kích thước (03x04)cm, có khóa nhựa kéo một đầu, bên trong có chất màu trắng (thu giữ dưới nền phòng, các bị cáo trong phòng 302 đều khai nhận đó là ma túy Ketamine, ký hiệu là M4 khi giám định);
- 01 đĩa sứ, 01 loa lớn màu đen, 04 (bốn) loa nhỏ màu đen, 01 đèn chiếu sáng màu xám. (Các bị cáo khai có sẵn trong phòng 302)
Tại bản kết luận giám định số: 1130/KLGĐ-PC09 ngày 24/09/2021 của Phòng K2 – Công an tỉnh B kết luận:
- Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,7139 gam; là Ketamine.
- Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,6772 gam. Không tìm thấy thành phần các chất có trong các danh mục chất ma túy và tiền chất được ban hành kèm theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ.
- Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 0,1893 gam; là Ketamine.
- Mẫu M4 gửi giám định có khối lượng 2,0073 gam; là Ketamine.
Xử lý vật chứng:
Đối với số vật chứng gồm: 01 dĩa sứ, 01 bật lửa, 01 loa nghe nhạc, 01 đèn chiếu sáng thu giữ trong trong phòng 201; 01 dĩa sứ, 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn và xỏ vào 3 vỏ của điếu thuốc lá 555, 01 thẻ nhựa màu xanh trên thẻ có dòng chữ T18, 01 bật lửa, 01 bộ loa nhãn hiệu ENKOR, 01 bộ đèn chiếu sáng màu đen thu giữ trong phòng 202; 01 dĩa sứ, 01 loa lớn màu đen, 04 loa nhỏ màu đen, 01 đèn chiếu sáng màu xám thu giữ trong phòng 302; số ma túy còn lại sau giám định, được niêm phong trong 04 (bốn) phong bì niêm phong số 1130/1, 1130/2, 1130/3 và 1130/4 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T14 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh B; 01 điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, hiệu Oppo màu trắng tím, chứa sim số 0969312815 thu giữ của Võ Thị Cẩm V; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng có gắn sim số [...] của Nguyễn Hoàng H. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra quyết định chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản chờ xử lý.
Đối với số vật chứng còn lại không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu.
Tại bản cáo trạng số 107/CT-VKSPT-HS ngày 04/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố các bị cáo Phạm Văn N, Võ Lê Triều C3, Đỗ Ngọc Q, Nguyễn Văn N1, Đặng Ngọc T6, Huỳnh Ngọc H4, Lê Trường A, Nguyễn Văn M2, Trần Văn H5, Võ Thị Cẩm V, Nguyễn Hoàng H, Lê Văn H1, Võ Đình S, Nguyễn Thanh T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và truy tố các bị cáo Phạm Văn N, Võ Lê Triều C3, Đỗ Ngọc Q, Nguyễn Văn N1, Đặng Ngọc T6, Huỳnh Ngọc H4, Lê Trường A, Nguyễn Văn M2, Trần Văn H5 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Đối với các bị cáo tại phòng 201, gồm: Nguyễn Hoàng H, Võ Đình S, Lê Văn H1, Nguyễn Thanh T2:
Nguyễn Hoàng H: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt 07 năm 6 tháng – 08 năm 6 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Đối với Võ Đình S, Lê Văn H1, Nguyễn Thanh T2: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo mức hình phạt 07 năm– 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Đối với bị cáo tại phòng 202, gồm: Võ Thị Cẩm V:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt 07 năm 6 tháng – 08 năm 6 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Đối với 09 bị cáo tại phòng 302, gồm: Phạm Văn N, Võ Lê Triều C3, Đỗ Ngọc Q, Nguyễn Văn N1, Đặng Ngọc T6, Huỳnh Ngọc H4, Lê Tường A2, Nguyễn Văn M2, Trần Văn H5.
Phạm Văn N:
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt từ 05 năm 6 tháng đến 06 năm 06 tháng tù giam về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- + Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 101 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự. Xử phạt từ 01 năm đến 01 năm 6 tháng.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội.
Võ Lê Triều C3, Huỳnh Ngọc H4, Lê Tường A2:
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt từ 05 năm đến 06 năm tù giam về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- + Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 101 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự. Xử phạt từ 09 tháng đến 12 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội.
Đỗ Ngọc Q:
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt từ 07 năm 06 tháng đến 8 năm 06 tháng tù giam về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
- + Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. xử phạt từ 12-18 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội.
Trần Văn H5:
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt từ 08 năm đến 09 năm về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
- + Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt từ 15-21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội.
Nguyễn Văn N1:
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt từ 07 năm 06 tháng đến 8 năm 06 tháng tù giam về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
- + Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. xử phạt từ 12-18 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội.
Đặng Ngọc T6, Nguyễn Văn M2:
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt từ 07 năm đến 8 năm tù giam về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
- + Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. xử phạt từ 12-15 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội.
Xử lý vật chứng:
Đối với 01 dĩa sứ, 01 bật lửa ; 01 dĩa sứ, được cuộn tròn và xỏ vào 3 vỏ của điếu thuốc lá 555, 01 thẻ nhựa màu xanh trên thẻ có dòng chữ T18, 01 bật lửa, 01 bộ loa nhãn hiệu ENKOR, ; 01 dĩa sứ, ; số ma túy còn lại sau giám định, được niêm phong trong 04 (bốn) phong bì niêm phong số 1130/1, 1130/2, 1130/3 và 1130/4 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T14 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh B. Xét đây là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, và không còn giá trị sử dụng. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 loa nghe nhạc 01 đèn chiếu sáng thu giữ trong trong phòng 201; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng, 01 bộ đèn chiếu sáng màu đen thu giữ trong phòng 202; 01 loa lớn màu đen, 04 loa nhỏ màu đen, 01 đèn chiếu sáng màu xám thu giữ trong phòng 302; 01 điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, hiệu Oppo màu trắng tím, chứa sim số 0969312815 thu giữ của Võ Thị Cẩm V; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng có gắn sim số [...] của Nguyễn Hoàng H. Xét là vật chứng của vụ án, là công cụ và phương tiện để các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không trình bày lời bào chữa, không tranh luận với Kiểm sát viên về hành vi phạm tội của mình cũng như lời kết tội của Kiểm sát viên.
Về lời nói sau cùng, các bị cáo nói lời sau cùng rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra-Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[1.1] Tại phiên tòa, các bị cáo không khiếu nại về thủ tục tố tụng.
[2] Về căn cứ buộc tội các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, thừa nhận Cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để kết luận:
Đây là vụ án “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” do các bị cáo Phạm Văn N, Võ Lê Triều C3, Đỗ Ngọc Q, Nguyễn Văn N1, Đặng Ngọc T6, Huỳnh Ngọc H4, Lê Trường A, Nguyễn Văn M2, Trần Văn H5, Võ Thị Cẩm V, Nguyễn Hoàng H, Lê Văn H1, Võ Đình S, Nguyễn Thanh T2 thực hiện và vụ án “Tàng trữ trái phép chất mà túy” do các bị cáo Phạm Văn N, Võ Lê Triều C3, Đỗ Ngọc Q, Nguyễn Văn N1, Đặng Ngọc T6, Huỳnh Ngọc H4, Lê Trường A, Nguyễn Văn M2, Trần Văn H5 thực hiện, cụ thể như sau:
Khoảng 23 giờ, ngày 24/7/2021, tại phòng 201, nhà nghỉ N2 tại số nhà H, đường H, phường P, thành phố P, Nguyễn Hoàng H, Võ Đình S, Lê Văn H1, Nguyễn Thanh T2 cùng góp tiền, mua ma túy Ketamine và ma túy tổng hợp (thuốc lắc) và thuê địa điểm tại nhà nghỉ N2 để cùng tổ chức đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của nhau, đến khoảng 00 giờ ngày 25/7/2024 thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 24/7/2021, tại phòng 202, nhà nghỉ N2 tại số nhà H, đường H, phường P, thành phố P, Võ Thị Cẩm V đã có hành vi mua ma túy K1 và ma túy tổng hợp (thuốc lắc) và thuê địa điểm tại nhà nghỉ N2 để tổ chức đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của Lê Thanh Q1, Lê Thanh T15, đến khoảng 00 giờ ngày 25/7/2024 thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Khoảng 23 giờ, ngày 24/7/2021, tại phòng 302, nhà nghỉ N2 tại số nhà H, đường H, phường P, thành phố P, Phạm Văn N, Võ Lê Triều C3, Đỗ Ngọc Q, Nguyễn Văn N1, Đặng Ngọc T6, Huỳnh Ngọc H4, Lê Trường A, Nguyễn Văn M2, Trần Văn H5 cùng góp tiền, mua ma túy Ketamine và ma túy tổng hợp (thuốc lắc) và thuê địa điểm tại nhà nghỉ N2 để cùng tổ chức đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của nhau và đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của Nguyễn Thị Kim T13, Lê Như M4. Đến khoảng 00 giờ ngày 25/7/2024 thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ 2,0073 gam ma túy loại Ketamnie do các bị cáo góp tiền mua để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
[2.1] Hành vi của 09 bị cáo gồm: Phạm Văn N, Võ Lê Triều C3, Đỗ Ngọc Q, Nguyễn Văn N1, Đặng Ngọc T6, Huỳnh Ngọc H4, Lê Trường A, Nguyễn Văn M2, Trần Văn H5 cùng nhau góp tiền mua ma túy, thuê địa điểm là phòng 302 tại nhà nghỉ N2 để thực hiện hành vi đưa trái phép chất ma túy vào người nhau và đưa trái phép chất ma túy vào người của Nguyễn Thị Kim T13, Lê Như M4 nên thuộc trường hợp phạm tội “Đối với 02 người trở lên”, đây là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 bộ luật Hình sự.
[2.2] Hành vi của 04 bị cáo gồm: Nguyễn Hoàng H, Lê Văn H1, Võ Đình S, Nguyễn Thanh T2 cùng nhau góp tiền mua ma túy, thuê địa điểm là phòng 201 tại nhà nghỉ N2 để thực hiện hành vi đưa trái phép chất ma túy vào người nhau nên thuộc trường hợp phạm tội “Đối với 02 người trở lên”, đây là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 bộ luật Hình sự.
[2.3] Hành vi của bị cáo Võ Thị Cẩm V mua ma túy, thuê phòng 202 tại nhà nghỉ N2, để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của Lê Thanh Q1, Lê Thanh T15 nên thuộc trường hợp phạm tội “Đối với 02 người trở lên”, đây là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 bộ luật Hình sự.
[2.4] Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố P còn thu giữ 2,0073 gam ma túy Ketamine do 09 bị cáo Phạm Văn N, Võ Lê Triều C3, Đỗ Ngọc Q, Nguyễn Văn N1, Đặng Ngọc T6, Huỳnh Ngọc H4, Lê Trường A, Nguyễn Văn M2, Trần Văn H5 cùng nhau góp tiền mua để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng chưa sử dụng hết tại phòng 302 nhà nghỉ N2. Do đó các bị cáo cũng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 bộ luật Hình sự.
[2.5] Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố các bị cáo Phạm Văn N, Võ Lê Triều C3, Đỗ Ngọc Q, Nguyễn Văn N1, Đặng Ngọc T6, Huỳnh Ngọc H4, Lê Trường A, Nguyễn Văn M2, Trần Văn H5, Võ Thị Cẩm V, Nguyễn Hoàng H, Lê Văn H1, Võ Đình S, Nguyễn Thanh T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và truy tố các bị cáo Phạm Văn N, Võ Lê Triều C3, Đỗ Ngọc Q, Nguyễn Văn N1, Đặng Ngọc T6, Huỳnh Ngọc H4, Lê Tường A2, Nguyễn Văn M2, Trần Văn H5 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Các bị cáo thành khẩn khai báo nên HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Chỉ riêng bị cáo Trần Văn H5 đã bị kết án tại Bản án số 07/2021/HSST ngày 13/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, chưa được xóa án tích. Đến ngày 24/7/2021 lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo H5 thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo còn lại không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Đối với Phạm Văn N, Huỳnh Ngọc H4, Lê Trường A, Võ Lê Triều C3, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 24/7/2021, các bị cáo là người dưới 18 tuổi nên được áp dụng các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Chương XII Bộ luật Hình sự.
[5] Hình phạt: Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng H, Lê Văn H1, Võ Đình S, Nguyễn Thanh T2, Võ Thị Cẩm V, Phạm Văn N, Nguyễn Văn N1, Đặng Ngọc T6, Đỗ Ngọc Q, Huỳnh Ngọc H4, Lê Trường A, Nguyễn Văn M2, Võ Lê Triều C3, Trần Văn H5 gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung. Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo; HĐXX xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và để răn đe, phòng, chống tội phạm chung.
[6] Đối với Lê Anh H8, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” ngày 24/7/2024, H8 là người dưới 16 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố P không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H8 là có căn cứ pháp luật.
[7] Đối với đối tượng tên “Hai SeaLink”, là người đã đặt phòng và bán ma túy cho Phạm Văn N, do không rõ nhân thân nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố P không có cơ sở để xác minh, xử lý.
[8] Đối với Nguyễn Thị Kim T13 và Lê Như M4 có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, quá trình điều tra đến nay đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính nên Cơ quan điều tra không ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính là có căn cứ pháp luật.
[9] Đối với hành vi cung cấp địa điểm, công cụ phương tiện, cho các bị cáo thuê để thực hiện hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của chủ nhà nghỉ N2 tên Trần Thị Diễm T10 quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra Thông báo truy tìm đối với T10 đến nay vẫn chưa làm việc được với T10. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố P Quyết định tách vụ án đối với hành vi của T10 để làm rõ xử lý sau.
[10] Đối với Nguyễn Chí B, quá trình điều tra Võ Thị Cẩm V khai nhờ B đặt phòng và ma túy giúp V. Tuy nhiên B không thừa nhận hành vi này, ngoài lời khai của V không còn tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh hành vi của B nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P không có cơ sở để xử lý.
[11] Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) dĩa sứ, 01 (Một) bật lửa thu giữ trong phòng 201; 01 (Một) dĩa sứ, 01 (Một) thẻ nhựa màu xanh trên thẻ có dòng chữ T18, 01 (Một) bật lửa thu giữ trong phòng 202; 01 (Một) dĩa sứ thu giữ trong phòng 302; 04 (Bốn) phong bì niêm phong số 1130/1, 1130/2, 1130/3 và 1130/4 chứa số ma túy còn lại sau giám định có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T14 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh B
Tuyên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 (Một) loa nghe nhạc, 01 (Một) đèn chiếu sáng thu giữ trong phòng 201; 01 (Một) bộ L6 nhãn hiệu ENKOK, 01 bộ đèn chiếu sáng màu đen, 01 dĩa sứ, 01 loa lớn màu đen, 04 loa nhỏ màu đen, 01 (Một) bộ đèn chiếu sáng màu đen thu giữ trong phòng 202; 01 (Một) loa lớn màu đen, 04 (Bốn) loa nhỏ màu đen, 01 (Một) đèn chiếu sáng màu xám thu giữ trong phòng 302; 01 (Một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, hiệu Oppo màu trắng tím, chứa sim số 0969312815 thu giữ của Võ Thị Cẩm V và 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, có gắn sim số 0938363387 của Nguyễn Hoàng H.
[12] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng H, Lê Văn H1, Võ Đình S, Nguyễn Thanh T2, Võ Thị Cẩm V, Phạm Văn N, Nguyễn Văn N1, Đặng Ngọc T6, Đỗ Ngọc Q, Huỳnh Ngọc H4, Lê Trường A, Nguyễn Văn M2, Võ Lê Triều C3, Trần Văn H5, mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1.Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Hoàng H, bị cáo Lê Văn H1, bị cáo Võ Đình S, bị cáo Nguyễn Thanh T2, Võ Thị Cẩm V phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Hoàng H 07 (Bảy) năm 06 (S2) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/11/2023.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H1 07 (B1) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/11/2023.
Xử phạt: Bị cáo Võ Đình S 07 (B1) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/11/2023.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T2 07 (B1) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/11/2023.
Xử phạt: Bị cáo Võ Thị Cẩm V 07 (B1) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/12/2024.
2.Căn cứ: Điểm g Khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Văn N1, bị cáo Đặng Ngọc T6, bị cáo Đỗ Ngọc Q, bị cáo Nguyễn Văn M2 phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn N1 08 (Tám) năm 06 (S2) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 (H9) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Văn N1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 10 (Mười) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/11/2023.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Ngọc T6 07 (Bảy) năm 06 (S2) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 (H9) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đặng Ngọc T6 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 09 (Chín) năm 06 (S2) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/11/2023.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Ngọc Q 08 (Tám) năm 06 (S2) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 (H9) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đặng Ngọc T6 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 10 (Mười) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/11/2023.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn M2 07 (Bảy) năm 06 (S2) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 (H9) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Văn M2 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 09 (Chín) năm 06 (S2) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/11/2023.
3.Căn cứ: Điểm g Khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 55, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố:
Bị cáo Huỳnh Ngọc H4, bị cáo Lê Trường A, bị cáo Võ Lê Triều C3 phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt:
Bị cáo Huỳnh Ngọc H4 07 (B1) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Huỳnh Ngọc H4 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 08 (T16) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/11/2023.
Xử phạt: Bị cáo Lê Trường A 07 (B1) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lê Trường A phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 08 (T16) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/11/2023.
Xử phạt: Bị cáo Võ Lê Triều C3 07 (B1) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Võ Lê Triều C3 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 08 (T16) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/11/2023.
4.Căn cứ: Điểm g Khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 55, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố:
Bị cáo Phạm Văn N phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt:
Bị cáo Phạm Văn N 07 (Bảy) năm 06 (S2) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Phạm Văn N phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 08 (T16) năm 06 (S2) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 01 (Một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” của Bản án số 66/2024/HSST ngày 27/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, buộc bị cáo Phạm Văn N phải chấp hành hình phạt của 02 bản án là 09 (Chín) năm 06 (S2) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/11/2023.
5.Căn cứ: Điểm g Khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm a khoản 1 Điều 55, khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự;
Xử phạt:
Bị cáo Trần Văn H5 09 (Chín) năm 06 (S2) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 (Hai) năm 06 (S2) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Văn H5 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
6.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) dĩa sứ, 01 (Một) bật lửa thu giữ trong phòng 201; 01 (Một) dĩa sứ, 01 (Một) thẻ nhựa màu xanh trên thẻ có dòng chữ T18, 01 (Một) bật lửa thu giữ trong phòng 202; 01 (Một) dĩa sứ thu giữ trong phòng 302; 04 (Bốn) phong bì số 1130/1, 1130/2, 1130/3 và 1130/4 chứa số ma túy còn lại sau giám định có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T14 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh B
T17 tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 (Một) loa nghe nhạc, 01 (Một) đèn chiếu sáng thu giữ trong phòng 201; 01 (Một) bộ L6 nhãn hiệu ENKOK, 01 bộ đèn chiếu sáng màu đen, 01 dĩa sứ, 01 loa lớn màu đen, 04 loa nhỏ màu đen, 01 (Một) bộ đèn chiếu sáng màu đen thu giữ trong phòng 202; 01 (Một) loa lớn màu đen, 04 (Bốn) loa nhỏ màu đen, 01 (Một) đèn chiếu sáng màu xám thu giữ trong phòng 302; 01 (Một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, hiệu Oppo màu trắng tím, chứa sim số 0969312815 thu giữ của Võ Thị Cẩm V và 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, có gắn sim số 0938363387 của Nguyễn Hoàng H (Theo biên bản giao nhận vật chứng 149 ngày 16/7/2024 giữa Công an thành phố P với Chi cục Thi hành án dân sự hành phố P).
7.Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Hoàng H, Lê Văn H1, Võ Đình S, Nguyễn Thanh T2, Võ Thị Cẩm V, Phạm Văn N, Nguyễn Văn N1, Đặng Ngọc T6, Đỗ Ngọc Q, Huỳnh Ngọc H4, Lê Trường A, Nguyễn Văn M2, Võ Lê Triều C3, Trần Văn H5, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
8.Quyền kháng cáo bản án các bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 25-02-2025).
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Công |
Bản án số 73/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 73/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
