Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/HS-PT

Ngày 21 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đình Trung;

Ông Trần Nam Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 460/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Hoàng Ngọc L và các bị cáo khác; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 171/2024/HS-ST ngày 28-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Hoàng Ngọc L, sinh năm 1958 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam, quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 01/12; nghề nghiệp: Làm rẫy; con ông Hoàng Ngọc H (đã chết) và bà Nguyễn Thị M (đã chết); có vợ tên Đoàn Thị Mỹ L1, sinh năm 1968; và có 05 người con, lớn nhất sinh năm 1988 và nhỏ nhất sinh năm 1995; tiền sự: Không.

Tiền án: Tại Bản án số 116/2021/HS-ST ngày 15-10-2021 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Đến ngày 26/02/2024 thì chấp hành xong.

Bị tạm giữ từ ngày 21/4/2024 đến ngày 26/4/2024 được tại ngoại (vắng mặt).

  1. Phan Thanh Đ, sinh năm 1968 tại Bình Định; nơi cư trú: Ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Chăn nuôi; con ông Phan Thanh H1 (đã chết) và bà Trương Thị Ngọc Đ1 (đã chết); có vợ là Trần Thị Thu H2, sinh năm 1972; có 02 người con, sinh năm 1993 và sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt).
  2. Hoàng Ngọc Á, sinh năm 1976 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: 08/12; nghề nghiệp: Làm rẫy; con ông Hoàng Ngọc D và bà Lý Thị H3; có vợ là Nguyễn Thị P, sinh năm 1980; có 02 người con, sinh năm 2003 và sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Vào khoảng 10 giờ ngày 20/4/2024, các bị cáo Hoàng Ngọc L, Trương P1, Phan Thanh Đ và Hoàng Ngọc Á đến Khu liên hợp Thể thao - Du lịch - Cà phê R, thuộc Ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai để uống nước và sẵn có 02 bộ bài tây ở trên bàn (của khách đến uống nước để lại) nên các bị cáo cùng rủ nhau tham gia đánh bạc dưới hình thức chơi đánh bài “Phỏm” thắng thua bằng tiền. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi các bị cáo L, P1, Đ và Á đang tham gia đánh bạc thì bị lực lượng Công an vào kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật liên quan đến hành vi đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 6.260.000 đồng (sáu triệu, hai trăm sáu mười ngàn đồng).

Hình thức đánh bạc như sau: Người chơi sử dụng bộ bài tây 52 lá chia đều cho 04 người chơi, mỗi người 09 lá bài, người chơi đánh lá bài đầu tiên sẽ được chia 10 lá. Tất cả các lá bài còn lại được đặt ở giữa bàn, gọi là “Nọc”. Người chơi đầu tiên sẽ đánh ra 01 lá bài, người tiếp theo sẽ ăn lá bài đó nếu nó hợp với các lá bài đang có tạo thành phỏm, nếu không thì người tiếp theo sẽ phải bốc 01 lá bài trong “Nọc”. Sau khi ăn bài hoặc bốc bài, người chơi phải đánh ra 01 lá bài, cứ tiếp tục như vậy cho đến hết vòng. Ván bài sẽ kết thúc khi trong bàn có 01 người chơi “Ù” và nếu không có ai “Ù” thì sau 04 lượt ván bài sẽ kết thúc. Khi đánh lượt cuối, người chơi phải hạ tất cả phỏm mình đang có rồi mới đánh quân cuối cùng. Ai ít điểm nhất trong bàn sẽ là người thắng cuộc. Số điểm của mỗi lá bài là số trên lá bài đó, riêng các lá A, J, Q, K sẽ được tính điểm lần lượt là 1, 11, 12, 13. Trong trường hợp điểm số bằng nhau, người hạ bài trước được xử thắng, người hạ bài sau sẽ bị xử thua. Người chơi không có phỏm nào (cháy) sẽ bị tính về cuối. Người về nhất ăn hết số tiền của 03 người còn lại, người về nhì thua số tiền 20.000 đồng, người về ba thua số tiền 40.000 đồng, người về cuối thua số tiền 60.000 đồng, còn người nào bị cháy thì thua số tiền 80.000 đồng. Nếu có người “Ù” thì mỗi người chơi phải trả cho người đó số tiền 100.000 đồng, đồng thời người có bài “Ù” sẽ phải trích ra số tiền 20.000 đồng để làm tiền “Xâu” trả tiền nước. Trường hợp “Ù tròn” thì mỗi người phải trả cho người “Ù tròn” số tiền 200.000 đồng. Đồng thời, người có bài “Ù tròn” sẽ phải trích ra số tiền 40.000 đồng để làm tiền “Xâu” trả tiền nước. Trong ván bài, nếu người nào ăn được quân bài đầu tiên thì sẽ được 20.000 đồng, ăn quân bài thứ hai sẽ được 40.000 đồng, ăn quân bài thứ ba thì được 60.000 đồng và người để bị mất 03 quân bài sẽ phải đền số tiền “Ù” hoặc “Ù tròn” cho cả 03 người. Nếu ăn được quân bài chốt hạ sẽ được số tiền 80.000 đồng.

Hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài “Phỏm” thắng thua bằng tiền của các bị cáo cụ thể như sau:

  1. Bị cáo Hoàng Ngọc L khai nhận: L mang theo số tiền 420.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc, đánh được khoảng 10 ván có ván thắng ván thua. Đến khi bị bắt quả tang, L đang thua số tiền 90.000 đồng, thu giữ trên người Lượng số tiền 330.000 đồng.
  2. Bị cáo Trương P1 khai nhận: P1 mang theo số tiền 1.090.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc, đánh được khoảng 10 ván có ván thắng ván thua, quá trình đánh bạc P1 “Ù tròn” được một ván và trích ra số

tiền 40.000 đồng để trả tiền nước. Đến khi bị bắt quả tang, P1 đang thua số tiền 250.000 đồng, thu giữ trên người P1 số tiền 840.000 đồng.

  1. Bị cáo Phan Thanh Đ khai nhận: Đ mang theo số tiền 3.350.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc, đánh được khoảng 10 ván, quá trình đánh bạc Đ “Ù” được ba ván và trích ra số tiền 60.000 đồng để trả tiền nước. Đến khi bị bắt quả tang, Đ đang thắng số tiền 310.000 đồng, thu giữ trên người Đ số tiền 3500.000 đồng.
  2. Bị cáo Hoàng Ngọc Á khai nhận: Á mang theo số tiền 1.400.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc, đánh được khoảng 10 ván, quá trình đánh bạc Á “Ù tròn” được một ván và trích ra số tiền 40.000 đồng để trả tiền nước. Đến khi bị bắt quả tang, Á đang thua số tiền 110.000 đồng, thu giữ trong bóp (ví) tại ví trí Á ngồi số tiền 1.060.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • - Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 530.000 đồng trong đó: có số tiền 230.000 đồng của Á dùng để đánh bạc; số tiền 140.000 đồng là tiền “Ù tròn” một ván của Á, P1 và tiền “Ù” ba ván của Đ trích ra để trả tiền nước; số tiền 160.000 đồng là số tiền thắng ván cuối của Đ;
  • - Thu giữ của Hoàng Ngọc L số tiền 330.000 đồng; Thu giữ của Trương P1 số tiền 840.000 đồng; Thu giữ của Phan Thanh Đ số tiền 3.500.000 đồng; Thu giữ trong bóp (ví) tại vị trí ngồi của Hoàng Ngọc Á số tiền 1.060.000 đồng.
  • - 02 (hai) bộ bài tây 52 lá, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 60B5- 648.83; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 36B1 - 216.06 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A04S, màu đen.
  • - 01 (một) điện thoại hiệu Oppo Reno8, màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, màu đen và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen (loại bàn phím); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh xám.

2. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 171/2024/HS-ST ngày 28-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Ngọc L phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được khấu trừ đi thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 21/4/2024 đến ngày 26/4/2024.

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố các bị cáo Phan Thanh Đ và Hoàng Ngọc Á phạm tội “Đánh bạc".

Xử phạt bị cáo Phan Thanh Đ 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc Á 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với bị cáo khác; án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Kháng cáo:

Trong thời hạn luật định, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

4. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:- Về tội danh:

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 là có căn cứ, đúng quy định.

- Về kháng cáo và hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo mức án đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật; do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đối với các tình tiết giảm nhẹ bị cáo cung cấp tại cấp phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Bị cáo Hoàng Ngọc L có đơn xin hoãn phiên tòa và cung cấp tài liệu thể hiện bị cáo nhập viện tại Trung tâm y tế huyện X (khoa cấp cứu) và các tài liệu về khám, chữa bệnh; do đó, việc bị cáo vắng mặt là có lý do chính đáng. Tuy nhiên, trong vụ án còn có các bị cáo khác kháng cáo; không có kháng nghị của Viện kiểm sát theo hướng bất lợi cho bị cáo nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 315 vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị cáo L.

[2] Về tội danh:

Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, nội dung Bản án sơ thẩm; các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Hoàng Ngọc L phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Hoàng Ngọc Á, Phan Thanh Đ không có tình tiết tăng nặng.

3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • + Tại cấp sơ thẩm: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • + Tại cấp phúc thẩm: Các bị cáo cung cấp đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú; bị cáo Hoàng Ngọc L là người cao tuổi là tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự áp dụng cho các bị cáo.

[4] Về kháng cáo và hình phạt:

- Đối với bị cáo Hoàng Ngọc L: Bị cáo phạm tội với tình tiết “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự nên không đủ điều kiện được hưởng án treo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người cao tuổi (theo Luật Người cao tuổi), số tiền tham gia đánh bạc không lớn (chỉ

420.000 đồng) nên chấp nhận một phần kháng cáo giảm nhẹ một hình phạt cho bị cáo.

- Đối với các bị cáo Phan Thanh Đ và Hoàng Ngọc Á đánh bạc với không mang tính chuyên nghiệp, không thường xuyên, số tiền đánh bạc thấp (bị cáo Đ 3.350.000 đồng, bị cáo Á 1.400.000 đồng); các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân chưa từng bị kết án hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính; các bị cáo kháng cáo cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo đối với các bị cáo.

[5] Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Chấp nhận một phần ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c, đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Ngọc L, Hoàng Ngọc Á và Phan Thanh Đ; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 171/2024/HS-ST ngày 28-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc về hình phạt do có tình tiết mới.

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc L 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được khấu trừ đi thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 21-4-2024 đến ngày 26-4-2024.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Phan Thanh Đ 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc Á 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc".

4. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Hoàng Ngọc L, Hoàng Ngọc Á, Phan Thanh Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

5. Quyết định của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo khác; án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc (2);
  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Xuân Lộc;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Xuân Lộc;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/HS-PT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tội đánh bạc

  • Số bản án: 73/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger