Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/DS-PT

Ngày 13-02-2025

V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huỳnh;
Các thẩm phán: Bà Trần Thị Thanh Trúc;
Bà Trần Thị Thắm.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phước - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 708/2024/TLPT-DS ngày 11/12/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 25/2025/QĐ-PT ngày 07 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Hồ Văn D, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm 1983; cùng địa chỉ: số B, đường D, khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bà N: Ông Hồ Văn D, là người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 14/8/2023); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp R, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Đặng Văn T, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương (Hợp đồng ủy quyền ngày 23/8/2022); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người kháng cáo: nguyên đơn ông Hồ Văn D và bà Nguyễn Thị Ánh N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

- Theo Đơn khởi kiện ngày 14 tháng 4 năm 2022, Bản tự khai ngày 14/4/2022, Biên bản lấy lời khai ngày 08/8/2023, Đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 23/7/2024, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn, đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 20/4/2021 ông Nguyễn Thanh H có nhu cầu chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên vợ chồng ông D, bà N và ông H có ký “Giấy thỏa thuận mua đất” đối với phần đất có diện tích 300m², thuộc thửa đất số 121, tờ bản đồ số 29, tại ấp R, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, đất đã được UBND huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 032232 ngày 17/11/2005 cho ông H. Giá chuyển nhượng là 1.000.000.000 đồng.

Sau khi ký “Giấy thỏa thuận mua đất” ngày 20/4/2021 thì đến ngày 21/4/2021 vợ chồng ông D đã đặt cọc cho ông H số tiền 250.000.000 đồng, số tiền còn lại 750.000.000 đồng sẽ trả cho ông H ngày 10/3/2022. Do ông H không thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thỏa thuận nên vợ chồng ông D khởi kiện yêu cầu ông H tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, nay ông D thay đổi yêu cầu khởi kiện là yêu cầu hủy “Giấy thỏa thuận mua đất” ngày 20/4/2021, đồng thời yêu cầu H trả lại số tiền cọc đã nhận 250.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông H về việc hủy “Giấy thỏa thuận mua đất” ngày 20/4/2021 thì nguyên đơn thống nhất.

- Tại văn bản tự khai, biên bản lấy lời khai, đơn yêu cầu phản tố của bị đơn, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày:

Khoảng 20 giờ ngày 20/4/2021, tại nhà ông Nguyễn Văn K ( ông K là cha ruột của ông H và bà N vợ ông D) thì giữa các bên có ký giấy thỏa thuận mua bán đất như ông D trình bày. Việc ông ký giấy thoả thuận bán đất là do vợ chồng ông H đang phải thi hành án số tiền 250.000.000 đồng. Các bên thỏa thuận sẽ cùng ra cơ quan thi hành án trả số tiền 250.000.000 đồng để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra và ông H sẽ giao cho vợ chồng ông D giữ, nếu ông H không có tiền trả lại cho ông D thì ông D sẽ mua diện tích đất này với số tiền 1.000.000.000 đồng.

Khoảng 09 giờ ngày 21/4/2021 ông H cùng vợ chồng ông D đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng gặp ông C là chấp hành viên đang thụ lý hồ sơ thi hành án thì ông C giải thích: trả tiền thì ông C nhận, còn việc trả lại bản chính giấy chứng nhận thì ông C không đồng ý vì cá nhân vợ của ông H còn phải thi hành đối với vụ án khác nên sau đó vợ chồng ông D bỏ về.

Nay vợ chồng ông D khởi kiện yêu cầu hủy giấy thỏa thuận mua bán đất thì ông H đồng ý và có yêu cầu phản tố về yêu cầu này. Đối với yêu cầu trả lại số tiền đặt cọc 250.000.000 đồng thì ông H không có nhận số tiền này nên không đồng ý.

- Tại biên bản lấy lời khai và đơn xin giải quyết vắng mặt của người làm chứng bà Nguyễn Thanh N1 trình bày: ngày 20/4/2021, bà N1 có chứng kiến

3

việc nguyên đơn và bị đơn ký “Giấy thỏa thuận mua đất” ngày 20/4/2021, bà N1 chỉ tự đọc và ký tên chứ không đọc cho mọi người nghe theo nội dung ghi trong “Giấy thỏa thuận mua bán đất” ngày 20/4/2021. Ngoài ra, bà N1 không cung cấp thông tin, chứng cứ gì thêm.

- Tại biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa người làm chứng ông Nguyễn Văn K trình bày: ngày 20/4/2021, ông K không trực tiếp chứng kiến việc ký kết “Giấy thỏa thuận mua đất” nhưng khi vợ chồng ông D, bà N có nói ông K ký vào “Giấy thỏa thuận mua bán đất” ngày 20/4/2021 để ông D, bà N ra Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng giao số tiền 250.000.000 đồng để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, ông K cũng có nghe ông D, bà N nói cho ông H mượn số tiền 250.000.000 đồng để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về nên ông K ký tên dưới mục người làm chứng. Ông không chứng kiến việc giao nhận tiền giữa các bên.

- Tại biên bản lấy lời khai và đơn xin giải quyết vắng mặt, người làm chứng ông Nguyễn Văn H1 trình bày: ngày 20/4/2021, ông H1 có mặt ở nhà ông Nguyễn Văn K, ông H1 đang uống rượu nên ông H1 không để ý việc thỏa thuận mua bán tài sản gì nhưng ông H1 nghe tiếng của một người phụ nữ nói sẽ giao tiền cho ông H tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng. Ông H1 xác định ngày 20/4/2021 ông H1 không thấy ai giao nhận tiền gì.

- Tại biên bản lấy lời khai và đơn xin giải quyết vắng mặt, người làm chứng ông Phạm Văn T1 trình bày: ngày 20/4/2021, ông T1 không chứng kiến việc ký kết “Giấy thỏa thuận mua đất” nhưng đến ngày 21/4/2021 thì ông H có giao cho ông T1 số tiền 250.000.000 đồng mà ông T1 và ông H thỏa thuận tại Văn bản thỏa thuận mức thù lao ngày 21/4/2021 là số tiền 300.000.000 đồng, còn lại số tiền 50.000.000 đồng thì ông H đã giao cho ông T1 vào khoảng tháng 5/2022. Ngày 21/4/2021, ông D có đưa cho H số tiền 250.000.000 đồng thì ông H đã giao lại số tiền 250.000.000 đồng cho ông, khi ông T1 nhận số tiền 250.000.000 đồng của ông H thì ông T1 nghe ông D nói là tiền mua nhà, đất của ông H, còn giữa các bên ký giấy thỏa thuận mua bán tài sản gì thì ông T1 không biết.

Chứng cứ người làm chứng ông T1 cung cấp gồm: biên bản về việc giải quyết việc thi hành án, Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 157/2021/QĐST-DS, 02 Hợp đồng ủy quyền ngày 23/4/2021, Văn bản thỏa thuận mức thù lao ngày 21/4/2021, căn cước công dân của ông T1, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện “tranh chấp hợp đồng đặt cọc” của nguyên đơn ông Hồ Văn D, bà Nguyễn Thị Ánh N đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh H về việc yêu cầu trả số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm triệu đồng).

4

  1. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn, đại diện hợp pháp của nguyên đơn và đại diện hợp pháp của bị đơn về việc thống nhất hủy “Giấy thỏa thuận mua đất ngày 20/4/2021” đối với diện tích đất 300m², thuộc thửa số 29, tờ bản đồ số 29, tại ấp R, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 032232 do UBND huyện D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 17/11/2005 cho ông Nguyễn Thanh H.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự

Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 26/9/2024, nguyên đơn ông Hồ Văn D, bà Nguyễn Thị Ánh N kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo; bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.

Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là có căn cứ, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nguyên đơn ông Hồ Văn D, bà Nguyễn Thị Ánh N kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới làm thay đổi nội dung vụ án nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: kháng cáo của nguyên đơn ông Hồ Văn D, bà Nguyễn Thị Ánh N trong hạn luật định, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung :

Ngày 20/4/2021, nguyên đơn ông D, bà N và bị đơn ông H có ký kết “Giấy thỏa thuận mua đất” đối với phần đất có diện tích 300m², thuộc thửa đất số 121, tờ bản đồ số 29, địa chỉ thửa đất ấp R, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, đất được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 032232 do UBND huyện D, tỉnh Bình Dương ngày 17/11/2005 cho ông Nguyễn Thanh H. Giá chuyển nhượng là 1.000.000.000 đồng. Tại “Giấy thỏa thuận mua đất” xác định số tiền thanh toán lần 01 là 250.000.000 đồng sẽ được thanh toán vào ngày 20/4/2021, tuy nhiên, nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất xác định số tiền 250.000.000 đồng không được giao vào ngày 20/4/2021 theo thỏa thuận mà sẽ được giao vào ngày 21/4/2021; số tiền thanh toán lần 02 là 750.000.000 đồng sẽ

5

được giao vào ngày 10/3/2021. Sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông D, bà N cho rằng vào ngày 21/4/2021, ông bà đã giao số tiền 250.000.000 đồng cho H, đến ngày 10/3/2022 ông H không thực hiện đúng như thỏa thuận theo “Giấy thỏa thuận mua bán đất” ngày 20/4/2021 nên khởi kiện yêu cầu: hủy “Giấy thỏa thuận mua đất” ngày 20/4/2021, đồng thời yêu cầu ông H trả lại số tiền đặt cọc 250.000.000 đồng.

Bị đơn ông H cho rằng vào ngày 21/4/2021, ông D, bà N không giao số tiền 250.000.000 đồng cho ông H theo thỏa thuận nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện, đồng thời phản tố yêu cầu hủy “Giấy thỏa thuận mua đất” ngày 20/4/2021.

Xét kháng cáo của nguyên đơn:

Đối với yêu cầu hủy “Giấy thỏa thuận mua đất ngày 20/4/2021”: nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất hủy giấy thỏa thuận mua bán đất này. Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự thỏa thuận giữa nguyên đơn và bị đơn là phù hợp.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn ông D, bà N về việc buộc bị đơn trả lại số tiền 250.000.000 đồng thì thấy rằng ông D xác định đã giao số tiền 250.000.000 đồng cho bị đơn ông H, giao tiền mặt vào ngày 21/4/2021 nhưng không có chứng cứ gì chứng minh về việc giao số tiền này, ông H không thừa nhận việc giao tiền. Đối với lời khai của người làm chứng ông Phạm Văn T1 và chứng cứ ông T1 cung cấp là Văn bản thỏa thuận mức thù lao kèm theo Hợp đồng ủy quyền số 001032/01/2021 ngày 21/4/2021, Hợp đồng ủy quyền giữa ông Nguyễn Thanh H và ông Phạm Văn T1 số công chứng 001032 quyển số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/4/2021. Đây là văn bản thỏa thuận mức thù lao giữa ông T1 và ông H lập ngày 21/4/2021 nhưng đã ghi nhận “kèm theo Hợp đồng ủy quyền số công chứng 001032 quy ển số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/4/2021” là mâu thuẫn (số công chứng có trước ngày được công chứng đồng thời văn bản thỏa thuận vừa có đánh máy, vừa có chữ viết tay của ông T1) chứng cứ này là không đủ cơ sở pháp lý nên lời khai của ông T1 là không cơ sở xem xét. Do đó, không có chứng cứ để chứng minh việc ông D, bà N đặt cọc cho ông H số tiền 250.000.000 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông D, bà N về việc buộc bị đơn ông H phải trả lại số tiền đặt cọc 250.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật, nguyên đơn ông D, bà Á kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên không căn cứ chấp nhận.

[3] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.

[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

6

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 48, 148, khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Hồ Văn D, bà Nguyễn Thị Ánh N.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Hồ Văn D, bà Nguyễn Thị Ánh N mỗi người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mỗi người đã nộp theo Biên lai số 0000521 ngày 27/9/2024 và Biên lai số 0007157 ngày 29/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Dầu Tiếng;
  • - TAND huyện Dầu Tiếng;
  • - Các đương sự;
  • - Tổ hành chính tư pháp;
  • - Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC

THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Huỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2025/DS-PT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 73/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger