|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 73/2024/DSST
Ngày: 09/12/2024
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Lan Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Tấn Đô
Bà Phan Thị Ngọc Hiền
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Hà - Thư ký TAND tỉnh Đồng Nai
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng Uyên - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 23/2020/TLST - DS ngày 14/02/2020 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXX-ST ngày 25/9/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 883/2024/TB-TA ngày 23/10/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 1055/2024/QĐ-PT ngày 11/11/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 1091/2024/QĐ-PT ngày 29/11/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1951.
Thường trú: 217A, quốc lộ 15, khu phố 2, phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Địa chỉ: E15, khu phố 2, đường D2, phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Bà Tạ Thị Thu H, sinh năm 1950.
Địa chỉ: 1 đường P, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1988.
Địa chỉ: A, đường C, khu phố C, P. T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 08/6/2020)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Tạ Thu H1, sinh năm: 1975
- Chị Tạ Thu H2, sinh năm: 1976.
Cùng địa chỉ: E, khu phố B, đường D, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Chị Tạ Thu L1, sinh năm: 1979
Địa chỉ: F, khu phố B, phường B, TP ., tỉnh Đồng Nai.
- Anh Tạ Kim P, sinh năm: 1981
Địa chỉ: E, khu phố H, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Chị Tạ Thị K, sinh năm: 1983.
Địa chỉ: 2, V, K, Malaysia.
Địa chỉ liên hệ: A86, khu phố A, khu tái định cư phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà L, ông T, chị H1, chị H2, chị L1, anh P, chị K có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
Vào năm 1977, ông Tạ Kim P1 là chồng bà (đã mất năm 2011) đã nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị Q 02 thửa đất nay là thửa số 82 và 93, tờ bản đồ số 23, khu phố B, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai theo Giấy biên nhận bán nhà ngày 16/12/1977 có xác nhận của T1 giao thông vận tải.
Đến năm 1980, gia đình bà cho bà Tạ Thị Thu H (em ruột của ông P1) ở nhờ trong căn nhà gỗ bằng ván ép nằm trên thửa số 82, tờ bản đồ số 23, khu phố B, phường T, TP ..
Ngày 04/01/2001, ông P1 và bà H đã lập Giấy thỏa thuận với nội dung “Nhà này sẽ đứng tên Tạ Kim T2 (nay đổi là Tạ Kim P) là con trai trưởng của ông P1. Bà H (em gái ông P1) được quyền sử dụng căn nhà này cho đến mãn đời. Sau khi bà H tạ thế thì chủ quyền căn nhà này thuộc về ông Tạ Kim T2 (P). Hai bên cam kết không khiếu nại gì về đất cát giữa hai anh em và bà H phải đóng thuế sử dụng đất hàng năm”. Các bên sinh sống ổn định trên đất đến nay và tiền thuế sử dụng đất vẫn do gia đình bà đóng dù theo cam kết nêu trên thì bà H phải đóng.
Năm 2007, bà và ông P1 đã được U cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 891360 ngày 22/01/2017 đối với thửa đất số 93, tờ bản đồ số 23, khu phố B, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai. Nay con trai bà là anh P mong muốn liên hệ với Cơ quan nhà nước để xin đăng ký kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 82 nêu trên và đồng ý cho bà H tiếp tục ở đến cuối đời nhưng bà H không đồng ý và đã tự ý đi đăng ký kê khai đối với thửa đất trên nhưng không được Nhà nước chấp nhận.
Gia đình bà đã nhiều lần làm đơn hòa giải ở UBND phường T nhưng đều hòa giải không thành.
Tại đơn khởi kiện bà yêu cầu Tòa án buộc bà Tạ Thị Thu H phải trả lại cho bà thửa đất số 82, tờ bản đồ số 23, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có diện tích đất khoảng 30m²
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành đo vẽ và tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 2490/2021 ngày 14/5/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh B thể hiện thửa đất số 82, tờ bản đồ số 23, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có diện tích 47,6m² nên bà đã khởi kiện bổ sung, yêu cầu Tòa án buộc bà H phải trả lại cho bà toàn bộ diện tích 47,6m² thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 23, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tại phiên tòa hôm nay, bà giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu khởi kiện bổ sung nêu trên.
Đối với Bản đồ hiện trạng thửa đất số 2490/2021 ngày 14/5/2021, Bản vẽ hiện trạng nhà ngày 14/5/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh B; Chứng thư thẩm định giá số 94/TĐG-CT ngày 02/7/2021 của Công ty C1 thì bà đồng ý, không có ý kiến gì.
- Theo bị đơn do ông Nguyễn Trung T đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bà Tạ Thị Thu H là em ruột của ông Tạ Kim P1 (đã mất năm 2011).
Vào khoảng năm 1976, bà H từ quê vào N sinh sống và ở trên miếng đất có nhà ở làm bằng ván ép do ông P1 cho nằm sát vách nhà ông P1, sau lưng là thửa đất nhà ông Nguyễn Cảnh . Nguồn gốc thửa đất này là của đại tá T3 (nay đã chết) khai phá và ở, sau đó Nhà nước trưng thu làm Văn phòng Công ty X, sau khi Công ty X sáp nhập với Công ty X1 thì Nhà nước ký hợp đồng cho ông P1 và ông Nguyễn C thuê để ở (dạng nhà ở xã hội cho CBCC). Đến năm 1990, Nhà nước đã bán hóa giá cho ông P1 và ông C mỗi người một lô nhưng trong đó không có phần diện tích đất mà bà H đang ở.
Bà H đã ở trên đất từ năm 1980 đến nay. Sau đó, đến năm 1999, bà H đã làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có Biên bản thỏa thuận về ranh giới thửa đất đã được ông P1 xác nhận đúng theo lược đồ thửa đất và đã được UBND phường T xác nhận. Tuy nhiên do không am hiểu pháp luật và không đủ điều kiện kinh tế nên chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Sau này, do bà L tranh chấp nên đến nay bà H vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Năm 2011, Phòng quản lý đô thị U đã cấp chứng nhận số nhà cho bà H theo Giấy chứng nhận số nhà ngày 26/12/2011.
Đối với Giấy thỏa thuận ngày 04/01/2001 với nội dung “Nhà này sẽ đứng tên Tạ Kim T2 (nay đổi là Tạ Kim P) là con trai trưởng của ông P1. Bà H (em gái ông P1) được quyền sử dụng căn nhà này cho đến mãn đời. Sau khi bà H tạ thế thì chủ quyền căn nhà này thuộc về tạ Kim T2. Hai bên cam kết không khiếu nại gì về đất cát giữa hai anh em và bà H phải đóng thuế sử dụng đất hàng năm” do bà L cung cấp cho Tòa án bà H hoàn toàn không biết. Bà H đã sinh sống ổn định trên đất hơn 40 năm nên nay bà L khởi kiện yêu cầu bà H phải trả lại cho bà toàn bộ thửa đất số 82, tờ bản đồ số 23, khu phố B, phường T, TP . thì bà H không đồng ý.
Ngày 08/12/2020, bà Tạ Thị Thu H yêu cầu phản tố, đề nghị Tòa án công nhận toàn bộ diện tích 47,6m² thửa đất số 82, tờ bản đồ số 23, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thuộc quyền sử dụng của bà H. Tại phiên tòa, bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố.
Đối với Bản đồ hiện trạng thửa đất số 2490/2021 ngày 14/5/2021, Bản vẽ hiện trạng nhà ngày 14/5/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh B; Chứng thư thẩm định giá số 94/TĐG-CT ngày 02/7/2021 của Công ty cổ thẩm định giá Đ thì phía bà H đồng ý, không có ý kiến gì.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Tạ Thu L1 trình bày:
Chị là con của ông P1 và bà L. Chị thống nhất với ý kiến của bà L và không có ý kiến gì khác. Đề nghị Tòa án xem xét buộc bà Tạ Thị Thu H trả lại cho mẹ chị toàn bộ diện tích 47,6m² thửa đất số 82, tờ bản đồ số 23, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Tạ Thu H1, chị Tạ Thu H2, anh Tạ Kim P trình bày (tại phiên tòa):
Anh chị là con của ông P1 và bà L. Anh, chị thống nhất với ý kiến của bà L và không có ý kiến gì khác. Đề nghị Tòa án xem xét buộc bà Tạ Thị Thu H trả lại cho mẹ chị toàn bộ diện tích 47,6m² thửa đất số 82, tờ bản đồ số 23, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Tạ Thị K trình bày (tại phiên tòa):
Chị là con của ông P1 và bà L. Chị đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và không có ý kiến gì khác.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp quy định; yêu cầu phản tố của bị đơn là không có không có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn; Về án phí: bị đơn được miễn án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L khởi kiện và khởi kiện bổ sung yêu cầu bà Tạ Thị Thu H phải trả lại cho bà toàn bộ diện tích 47,6m² thửa đất số 82, tờ bản đồ số 23, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Bị đơn bà Tạ Thị Thu H yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án công nhận toàn bộ diện tích 47,6m² thửa đất số 82, tờ bản đồ số 23, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thuộc quyền sử dụng của bà H. Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện, yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn; Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn và bị đơn cư trú tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai; trong quá trình giải quyết vụ án, phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tạ Thị K sinh sống tại 28/6, V, K, Malaysia. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
[1.3] Về thủ tục ủy quyền:
Bà Tạ Thị Thu H ủy quyền cho ông Nguyễn Trung T theo Hợp đồng ủy quyền ngày 08/6/2020, được Ủy ban nhân dân phường Q chứng thực là hợp lệ.
Chị Tạ Thị K ủy quyền cho bà Nguyễn Thị L, được Phòng C2 tỉnh Đồng Nai chứng nhận ngày 16/8/2019 là hợp lệ nên được chấp nhận. Ngày 11/11/2024, chị K yêu cầu chấm dứt ủy quyền đối với bà Nguyễn Thị L, tự mình tham gia vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu bị đơn bà Tạ Thị Thu H phải trả lại cho bà toàn bộ diện tích 47,6m² thửa đất số 82, tờ bản đồ số 23, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Theo các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được thể hiện:
Diện tích đất đang tranh chấp 47,6m² có nguồn gốc của ông Tạ Kim P1 nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị Q vào năm 1977. Ông P1 cho bà H (là em ruột của ông P1, bà H không chồng, con) làm nhà ở trên phần đất này, hai bên thỏa thuận cho bà H ở đến mãn đời, sau khi bà H chết thì chủ quyền căn nhà sẽ thuộc về anh Tạ Kim T2 (con trai ông P1).
Tại biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 13/8/1998 của Ủy ban nhân dân phường T thể hiện các mốc giới thửa đất có các chủ sử dụng đất tiếp giáp thửa đất của ông tạ Kim P1 gồm ông Nguyễn K1, cửa hàng C3, ông Nguyễn Hoàng N, ông Nguyễn C (không có bà H) (BL 213).
Theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất của Trung tâm K2 ngày 17/10/1998 (đo vẽ theo sự chỉ dẫn của của ông Tạ Kim P1 kèm theo biên bản xác định mốc, ranh giới thửa đất ngày 13/8/1998) thể hiện hình thể thửa đất là hình chữ T với diện tích là 499,8m²; ghi chú: diện tích có thể được điều chỉnh theo hồ sơ của phường, xã sau này (BL 212).
Ngày 16/01/2000, ông Tạ Kim P1 lập tờ trình nguồn gốc đất tổng diện tích 481m² có nội dung “Ngày 16/12/1977 tôi mua nhà đất của bà Lê Thị Q có giấy mua bán, hồ sơ nhà nhưng không được sang tên chủ quyền vì quy vào diện cải tạo vì là nhà của đại tá ngụy. Ngày 01/11/1982 được hợp đồng thuê nhà đất. Ngày 16/02/1985 được hòa giải theo quyết định số 18/QĐNĐ của Sở X2 ký, lô đất này chung một hộ bao gồm: Tạ Thu H, vợ và gia đình sử dụng đã có bản đồ do Sở địa chính và xã xác nhận” (BL 210).
Ngày 04/01/2001, ông P1 và bà H lập Giấy thỏa thuận về đất đai với nội dung: ông P1 có trách nhiệm xây dựng nhà cho bà H để ở (phía trước giáp hẻm B, rộng 04m; bên phải giáp nhà ông Nguyễn C; bên trái giáp đất ông P1; phía sau giáp nhà tắm ông P1). Bà H được sử dụng nhà ở đến mãn đời, sau khi bà H tạ thế thì chủ quyền căn nhà thuộc về anh Tạ Kim T2 (nay là Tạ Kim P) (BL 194).
Ngày 22/11/2006, ông Tạ Kim P1 làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 463,2m² (BL 122) kèm theo Hồ sơ kỹ thuật thửa đất số 80/2005 ngày 06/01/2005 của Trung tâm K2 thể hiện hình thể của thửa đất là chữ L (BL 124).
Như vậy, việc ông Tạ Kim P1 chỉ kê khai phần đất có diện tích 363,2m² trên tổng diện tích đất chuyển nhượng của bà Q không có nghĩa là đã tặng cho bà H diện tích đất đang tranh chấp hoặc từ bỏ diện tích đất thuộc quyền sử dụng của mình mà do ông P1, bà L thực hiện các nội dung theo Giấy thỏa thuận ngày 04/01/2001 với bà H. Nay bị đơn lại không thực hiện theo cam kết mà yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho mình sau khi ông P1 chết là không đúng với nội dung các bên đã thỏa thuận.
Do đó, bà L khởi kiện yêu cầu bà H trả lại cho bà toàn bộ diện tích 47,6m² thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 23, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là có căn cứ nên được chấp nhận.
Ngoài ra, nguyên đơn vẫn đồng ý cho bị đơn tiếp tục ở trên nhà, đất trên cho đến cuối đời theo thỏa thuận trước đây giữa ông P1 và bà H là không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên ghi nhận sự tự nguyện này của nguyên đơn.
[2.2]. Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn bà Tạ Thị Thu H về việc công nhận diện tích 47,6m² thửa đất số 82, tờ bản đồ số 23, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thuộc quyền sử dụng của bà H:
Bà H trình bày phần đất đang tranh chấp không phải có nguồn gốc do ông P1 mua của bà Q. Nguồn gốc thửa đất này là của đại tá T3 (nay đã chết) khai phá và ở, sau đó Nhà nước trưng thu làm Văn phòng Công ty X, sau khi Công ty X sáp nhập với Công ty X1 thì Nhà nước ký hợp đồng cho ông P1 và ông Nguyễn C thuê để ở (dạng nhà ở xã hội cho CBCC). Đến năm 1990, Nhà nước đã bán hóa giá cho ông P1 và ông C mỗi người một lô nhưng trong đó không mua phần diện tích đất mà bà H đang ở. Bà H đã ở trên đất này từ năm 1980 đến nay. Sau đó, đến năm 1999, bà H đã làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có Biên bản thỏa thuận về ranh giới thửa đất đã được ông P1 xác nhận đúng theo lược đồ thửa đất và đã được UBND phường T xác nhận.
Tại đơn phản tố ngày 08/12/2020 bà H thừa nhận: “Khoảng năm 1976 tôi vô nam sinh sống và ở trên một miếng đất nhỏ do ông P1 cho nằm sát vách gia đình ông P1” (BL 144). Đồng thời theo Giấy thỏa thuận về đất đai ngày 04/01/2001 giữa ông P1, bà H như đã nêu trên, tại cuối giấy thỏa thuận có bà H ký tên tại bên nhận đất, nhà; ông P1, bà L và anh T2 ký tên tại bên giao đất, các bên đã cam kết không khiếu nại về đất, bà H phải đóng thuế sử dụng đất hàng năm (BL 194).
Tại biên bản hòa giải tranh chấp đất đai do UBND phường T lập ngày 05/01/2018 (BL 16-17) thể hiện phía bà L cho biết nguồn gốc đất tranh chấp là của gia đình bà, ngày xưa có giấy thỏa thuận cho bà H ở tạm cho đến khi mất thì trả lại đất. Phía bà H thừa nhận “Giấy thỏa thuận bà L cung cấp do thời điểm đó tôi không hiểu biết nội dung nên ký...”.
Như vậy, mặc dù giấy thỏa thuận về đất đai ngày 04/01/2001 giữa ông P1 và bà H chỉ là bản photo nhưng nội dung giấy thỏa thuận thể hiện phù hợp với lời khai của nguyên đơn và bị đơn cũng thừa nhận có ký vào giấy thỏa thuận này. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự đây là tình tiết không phải chứng minh.
Bà H cũng thừa nhận bà không nhận chuyển nhượng thửa đất trên từ người khác, không khai phá hay được ai tặng cho, bà H cũng không cung cấp được chứng cứ nào thể hiện nguồn gốc thửa đất trên thuộc quyền sử dụng của mình. Bà H cho rằng do bà đã quản lý, sử dụng đất trên ổn định từ trước năm 1980 đến nay nên yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho bà là không có cơ sở nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
[3] Về án phí:
Bà H trên 60 tuổi (là người cao tuổi) nên thuộc trường hợp được miễn nộp án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên không phải chịu án phí DSST.
[4] Về chi phí tố tụng:
Quá trình tố tụng, nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng với số tiền 27.457.000đ. Tại phiên tòa, bà L đồng ý tự nguyên chịu khoản chi phí này và không yêu cầu bà H phải thanh toán lại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 157, Điều 165; Điều 235; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 100, 166, 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bị đơn bà Tạ Thị Thu H.
Buộc bị đơn bà Tạ Thị Thu H trả lại diện tích đất 47,6m² thửa đất số 82, tờ bản đồ số 23, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cho bà Nguyễn Thị L.
Bà H được tiếp tục ở lại căn nhà trên đất cho đến khi mãn đời.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Tạ Thị Thu H về việc công nhận diện tích đất 47,6m² thửa đất số 82, tờ bản đồ số 23, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thuộc quyền sử dụng của bà H.
- Bà Nguyễn Thị L được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí tố tụng: Không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Bà Tạ Thị Thu H được miễn án phí dân sự sơ thẩm do người cao tuổi theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký đóng dấu) Bùi Lan Hương |
Bản án số 73/2024/DSST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 73/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
