|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 73/2024/HS-ST Ngày: 04-12-2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG |
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Vĩnh.
Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Minh Toàn.
- Bà Nguyễn Thị Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Trúc Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Lê Tây Bắc- Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Ngô Trường T, sinh ngày 07 tháng 3 năm 1979, tại tỉnh Bến Tre.
Nơi cư trú: Số A, tổ H, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; quê quán: xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn É, sinh năm 1938 (chết) và bà Lê Thị X, sinh năm 1940; vợ tên Đỗ Thị Hồng T1, sinh năm 1981 (đã ly hôn); con 03 người, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2004; anh chị em ruột: có 07 người, lớn nhất sinh năm 1970, nhỏ nhất sinh 1985; tiền sự: chưa; tiền án: chưa. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 01/9/2024, tạm giam từ ngày 07/9/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
- Trần Quốc V, sinh năm 2000. Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long- vắng mặt.
- Nguyễn Lâm P, sinh năm 1974. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long- vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 01/9/2024, bị cáo Ngô Trường T thuê xe mô tô khách chở đến khu vực Cầu L, thuộc Phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long tìm người mua ma túy về sử dụng. Bị cáo gặp một thanh niên không rõ lai lịch mua 300.000 đồng ma túy. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày 01/9/2024, tại phòng trọ của Nguyễn Thanh D thuộc tổ A, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, bị cáo lấy ma túy mua được ra chia thành 06 bịch nylon để dành sử dụng dần. Đến khỏang 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang sử dụng ma túy thì có Trần Quốc V ở trọ kế bên sang chơi, bị cáo rũ V sử dụng ma túy, thì V đồng ý. Bị cáo đưa ma túy và ống thủy tinh cho V sử dụng. Khoảng 14 giờ 45 phú cùng ngày, cơ quan điều tra Công an huyện L kiểm tra thu giữ của bị cáo:
- + 06 bịch nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng.
- + 01 dĩa nhựa màu xanh có dính tinh thể màu trắng.
- + 01 bịch nylon có dính tinh thể màu trắng.
- + 01 đoạn ống nhựa sọc xanh trắng cắt nhọn một đầu bên trong có dính tinh thể màu trắng.
- + 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy có ống thủy tinh (gồm 02 chai nhựa bên trong có nước và ống thủy tinh).
- + 01 bật lữa.
- + 01 cây kéo kim loại màu đen.
- + 01 bịch lylon bóp miệng viền màu đỏ.
Theo Kết luận giám định số 587/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận:
- Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 06 bịch nylon là ma túy có khối lượng 0,6071 gam, loại Methamphetamine.
- Mẫu chất màu trắng dính trên dĩa màu xanh, bịch nylon và đoạn ống hút là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng.
- Mẫu chất lỏng bên trong chai nhựa có thể tích 78 ml, không tìm thấy chất ma túy
- Mẫu chất màu trắng bên trong ống thủy tinh là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là 0,0541 gam.
Ngày 06/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là Bộ luật hình sự) và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Cáo trạng số 71/CT-VKSLH ngày 05/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố Ngô Trường T về tội “Tàng trữ trái phép chấp ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung Cáo trạng số 71/CT-VKSLH ngày 05/11/2024, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Trường T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ngô Trường T từ 01(một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (một) năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ngô Trường T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (một) năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội là từ 04 năm đến 05 năm tù. Tịch thu tiêu hủy Methamphetamine còn lại sau giám định, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, một dĩa màu xanh, bật lửa, kéo kim loại, một bịch nylon bóp miệng viền màu đỏ, 01 đoạn ống hút nhựa sọc xanh. Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đúng như cáo trạng số 71/CT.VKSLH ngày 05/11/2024 của Viện kiểm sát đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Ngô Trường T thừa nhận hành vi cất giữ ma túy và rũ Trần Quốc V sử dụng ma túy đúng như Cáo trạng số 71/2024/CT.VKSLH ngày 05/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đã truy tố bị cáo. Hành vi cất giữ ma túy và rũ Trần Quốc V sử dụng ma túy của bị cáo bị phát hiện tại ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Nên Toà án nhân dân huyện Long Hồ thụ lý giải quyết sơ thẩm là đúng theo quy định tại Điều 269 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định khoa học hình sự. Bị cáo xác định không khiếu nại đối với quá trình tiến hành tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của Điều tra viên, của Kiểm sát viên và lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung hay dùng nhục hình. Do đó, hành vi và chứng cứ, tài liệu của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo không xin thay đổi Hội thẩm nhân dân theo đúng quyết định đưa vụ án ra xét xử. Nên Hội đồng tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Tại phiên toà, bị cáo khai nhận:
Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày 01/9/2024, tại phòng trọ thuộc tổ A, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, bị cáo sử dụng ma túy. Đến khỏang 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang sử dụng ma túy thì có Trần Quốc V ở trọ kế bên sang chơi, bị cáo rũ V sử dụng ma túy, thì V đồng ý. Bị cáo đưa ma túy và ống thủy tinh cho V sử dụng. Khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, cơ quan điều tra Công an huyện L kiểm tra thu giữ của bị cáo 06 bịch nylon chứa ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,6071 gam và một ống thủy tinh chứa ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là 0,0541 gam.
Bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và đủ năng lực hành sự. Bị cáo thực hiện hành vi cất giữ ma túy tại phòng ở là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm khách thể của Bộ luật hình sự bảo vệ: Đó là chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Khi sử dụng ma túy, bị cáo lại rũ Trần Quôc V1, cho ma túy và giao dụng cụ cho Trần Quốc V cùng sử dụng ma túy với bị cáo. Hành vi bị cáo rũ, cho ma túy, đưa dụng cụ hít ma túy cho Trần Quốc V sử dụng ma túy đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách pháp luật của Nhà nước về quản lý các chất ma túy; gây mất an ninh trật tự tại địa phương; ảnh hưởng trực tiếp đến phong trào T2 dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư. Chúng ta biết, ma túy là chất hướng thần, người sử dụng ma túy sẽ bị gây ảo giác và dễ nghiện, ảnh hưởng đến sức khỏe, ảnh hưởng đến tinh thần, thậm chí mất khả năng nhận thức. Ma túy là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng khác như trộm cắp, cướp giật, gây thương tích. Vì vậy, để đấu tranh ngăn chặn tệ nạn ma túy nói chung, người tàng trữ, người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nói riêng, nhằm giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, góp phần xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư, nên cần xử lý bị cáo nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[2.2]. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người có thành tích xuất sắc trong phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc, được Giám đốc Công an tỉnh V tặng giấy khen. Nên bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[2.3]. Về hình phạt bổ sung:
Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[3]. Về vật chứng:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy chất Methamphetamine còn lại sau giám định, 01 cây kéo kim loại màu đen, 01 bật lửa, 01 mống hút nhựa sọc xanh, 01 bịch nylon bóp miệng viền đỏ rỗng ruột là đúng pháp luật.
[4]. Đối với đối Trần Quốc V là người sử dụng ma túy, không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên Công an hyện L xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng pháp luật.
[5]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm là đúng quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14.
[5] Đối với quan điểm của Kiểm sát viên đã xem xét đến các chứng cứ được đưa ra thẩm tra tại phiên tòa, đã đánh giá đúng hành vi, tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo. Về đề nghị mức hình phạt, Kiểm sát viên đã xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Ngô Trường T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Ngô Trường T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Ngô Trường T 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sữa đổi bổ sung năm 2017:
Buộc bị cáo Ngô Trường T chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bị cáo Ngô Trường T bị bắt tạm giữ là ngày 01/9/2024.
1.2 Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Ngô Trường T.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017:
- Về vật chứng:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) cây kéo kim loại màu đen.
- + 01 (một) bật lửa.
- + 01 (một) bịch nylon bóp miệng viền đỏ rỗng ruột.
- + Phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 587/01 của Phòng K Công an tỉnh V.
- + Phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 587/02 của Phòng K Công an tỉnh V.
- + Phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 587/03 của Phòng K Công an tỉnh V.
Vật chứng trên được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ quản lý theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/11/2024.
- Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án:
Buộc bị cáo Ngô Trường T nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Tuyên án có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Văn Vĩnh |
Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 73/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Xủa bị cáo 01 năm 06 tháng tù
