TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 73/2024/HS-ST Ngày: 04 – 12–2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ly
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hùng
Bà Nguyễn Thị Quý
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kim Đức –Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Mai Phi Hùng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 đối với:
Bị cáo Điểu L, sinh năm 1986; nơi sinh: Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: M'Nông; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Điểu N và con bà Thị P; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: 04 tiền án, gồm:
- Ngày 20/11/2015, bị Toà án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 55/2015/HSST;
- Ngày 22/9/2017, bị Toà án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 39/2017/HSST;
- Ngày 30/10/2019, bị Toà án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 36/2019/HSST;
- Ngày 31/12/2020, bị Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 96/2020/HSST;
Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/9/2023 đến ngày 19/12/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Đến ngày 22/5/2024 bị cáo bị bắt tạm giam theo Quyết định bắt, tạm giam bị cáo số 02/2024/HSST-QĐBTG của Toà án nhân dân Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo Điểu L: Ông Nguyễn Sỹ T - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (có mặt)
Bị hại: Bà Thị B, sinh năm 1983, nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước (có mặt);
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Điểu M, sinh năm 1960, nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước (có mặt)
- Ông Điểu D, sinh năm 1995, nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975, nơi cư trú: B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đăk Nông (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 27/8/2023, Điểu L đến nhà bà Thị B (là cô ruột của L) ở thôn B, xã B, huyện B để mượn xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đỏ - đen, BSKS: 93P1-131.15 của gia đình bà B để đi mua rượu uống. Sau khi mượn được xe, L điều khiển xe mô tô đi được khoảng 30 mét thì nảy sinh ý định mang chiếc xe mô tô trên đi cầm cố lấy tiền tiêu xài nên L điều khiển xe quay lại và đi thẳng về hướng xã Đ, huyện T, tỉnh Đăk Nông rồi ở lại đây. Đến ngày 29/8/2023, L điều khiển xe mô tô đến vựa mua bán ve chai của Nguyễn Thị H ở B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đăk Nông cầm xe mô tô trên cho H với giá 1.000.000 đồng. Sau khi cầm xe và tiêu xài hết số tiền trên thì L nghe tin bà B đã trình báo Công an nên ngày 06/9/2023 L đến Cơ quan CSĐT Công an huyện B đầu thú và khai nhận hành vi của mình.
Vật chứng thu giữ gồm: xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen, biển số kiểm soát: 93P1-131.15, số máy: 5C64 – 486601, số khung: S5C640BY486603.
Theo kết luận định giá số 31 ngày 11/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B thì xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen, biển số kiểm soát: 93P1-131.15 mua vào năm 2011 với giá 28.000.000 đồng, tại thời điểm ngày 27/8/2023 có giá là 4.800.000 (bốn triệu tám trăm nghìn) đồng.
Tại bản Cáo trạng số 02/Ctr-VKS ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Điểu L về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập phát biểu quan điểm luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Điểu L và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử bị cáo Điểu L về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Điểu L mức án từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù.
- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: buộc bị cáo có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền 1.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Điểu L đã khai nhận bản thân bị cáo sau khi mượn được xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen, biển số kiểm soát: 93P1-131.15 của bị hại bà Thị B thì đã mang xe đi cầm cố cho bà Nguyễn Thị H lấy số tiền 1.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân theo đúng nội dung Cáo trạng đã truy tố. Nay bị cáo đã nhận biết hành vi của mình là trái pháp luật, xin Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo một mức án thấp để bị cáo có cơ hội sửa sai.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên tham gia quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Xét thấy các chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; kết luận định giá tài sản; lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ; người làm chứng phù hợp về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, vật chứng của vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 27/8/2023, Điểu L đến nhà bà Thị B ở thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước để mượn xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đỏ - đen, biển số kiểm soát: 93P1-131.15. Sau khi mượn được xe thì L nảy sinh ý định mang chiếc xe mô tô trên đi cầm cố lấy tiền tiêu xài nên điều khiển xe mô tô đến xã Đ, huyện T, tỉnh Đăk Nông và cầm cố xe cho bà Nguyễn Thị H với giá 1.000.000đ (một triệu) đồng. Theo kết luận định giá thì xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen, biển số kiểm soát: 93P1-131.15 có giá 4.800.000 (bốn triệu tám trăm nghìn) đồng.
Đối chiếu hành vi nêu trên của bị cáo với những quy định của pháp luật hiện hành thì hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 175 của Bộ luật Hình sự, do bị cáo phạm tội với tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
[3] Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Do lợi dụng lòng tin của bị hại mà bị cáo đã cầm cố tài sản của bị hại lấy tiền tiêu xài cá nhân là cố ý trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để bị cáo biết tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người khác và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 04 tiền án: Ngày 20/11/2015, bị Toà án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 22/9/2017, bị Toà án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 30/10/2019, bị Toà án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 31/12/2020, bị Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Đối với cả 04 bản án trên, bị cáo đều chưa được xoá án tích.
- Về tính tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại các phiên toà xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo; sau khi phạm tội đã ra Cơ quan Công an đầu thú; bị cáo là người đồng bào có trình độ học vấn thấp. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng: Không có
[5] Xét về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H yêu cầu bị cáo Điểu L phải trả lại cho bà H số tiền 1.000.000 đồng mà bà đã trả tiền cầm cố xe mô tô cho bị cáo, xét việc bà H cầm cố xe môtô cho bị cáo là không biết tài sản do phạm tội mà có, bị cáo đã thừa nhận đã nhận số tiền này, nên cần chấp nhận buộc bị cáo phải trả lại cho bà H là có căn cứ.
Bị hại bà Thị B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Điểu M không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập về tội danh đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Quan điểm về mức hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo về hình phạt phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
[9] Về xử lý vật chứng: Xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đỏ - đen, biển số kiểm soát: 93P1-131.15 do anh Điểu D đứng tên chủ sở hữu giao lại cho ông Điểu M, bà Thị B quản lý sử dụng, đã được Cơ quan điều tra Công an huyện B trả lại cho ông Điểu M, bà Thị B vào ngày 15/9/2023, nên không xử lý lại.
[10] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Điểu L phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Điểu L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tài sản”.
2. Về căn cứ áp dụng pháp luật:
Căn cứ Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Điểu L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2024, được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/9/2023 đến ngày 19/12/2023.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Điểu L phải trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng)
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Điểu L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Điểu L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hải Ly |
Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 73/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lạm dụng tín dụng
