|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 73/2024/HS-ST Ngày: 02-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Mạnh Quyết;
- Ông Nguyễn Văn Năm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Trần Tấn T, (tên gọi khác: không); sinh năm: 2000. Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Tài xế; Cha: Đặng Đức T1; Mẹ: Trần Thị Kim P; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 07/6/2024 đến nay.(có mặt)
- Bị hại: Ông Lê Văn Đ (đã chết)
- Đại diện hợp pháp bị hại:
- Bà Võ Thị Ngọc S; sinh năm: 1949;
- Ông Lê Ngọc H, sinh năm: 1978;
- Bà Lê Thị Ngọc T2, sinh năm: 1980;
- Ông Lê Ngọc T3, sinh năm: 1982;
Cùng nơi cư trú: khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
Đại diện theo ủy quyền của bà S, bà T2 và ông T3 là ông Lê Ngọc H (văn bản ủy quyền ngày 02/4/2024)- Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đặng Đức T1, sinh năm: 1978; Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.(có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 27/3/2024, Đặng Trần Tấn T có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô tải biển số 62C-148.77 cùng phụ xe là Võ Ánh X, chở gạch đi từ huyện Đ đến huyện C để giao hàng. Khoảng 05 giờ 30 cùng ngày, khi đến đoạn km 08+900m trên đường T thuộc Ấp C, xã T, huyện T, T điều khiển xe ô tô 62C-148.77 lưu thông theo hướng từ xã T về thị trấn T. Lúc này, do T ngủ gục nên không nhìn thấy ông Lê Văn Đ đang đi bộ cùng chiều phía trước. Khi xe ô tô 62C-148.77 còn cách ông Đ khoảng 1,5m thì T mới phát hiện ông Đ, T điều khiển xe sang trái để tránh nhưng không kịp làm gốc bên phải đầu xe ô tô 62C-148.77 va chạm vào người ông Đ gây ra tai nạn giao thông đường bộ. Hậu quả: tai nạn làm ông Đ bị thương sau đó tử vong tại chỗ.
Tại Kết luận giám định tử thi số: 58/KLGĐTT-TTPY ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh L kết luận: Nạn nhân Lê văn Đ sinh năm 1949 tử vong do chấn thương sọ não nặng.
Tại kết quả xét nghiệm sinh hóa ngày 27/3/2024 của Trung tâm y tế huyện T xác định: Đặng Trần Tấn T dương tính với A và M.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan CSĐT Công an huyện T lập vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 27/3/2024 thể hiện:
Hiện trường là đoạn đường thẳng được trải nhựa phẳng, mặt đường có vạch sơn vàng không liên tục phân chia thành hai chiều xe riêng biệt, chiều rộng mặt đường hướng T đi thị trấn T là 3m40 và ngược lại hướng thị trấn T đi T là 3m20.
Chọn trụ điện số 4A nằm bên trái đường, hướng T đi thị trấn T làm điểm mốc. Chọn mép đường bên phải hướng T đi thị trấn T làm mép đường chuẩn.
Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí phương tiện, dấu vết:
(1) vị trí vết máu, (2) vị trí xe ô tô tải 62C-148.77.
(1) vị trí vết máu: để lại trên lề đường bên phải hướng T đi thị trấn T. Vết có kích thước dài 0m15, rộng nhất 0m05. T4 vết đo vuông gốc với mép đường chuẩn là 2m15 và đo trực tiếp đến điểm mốc là 23m40.
(2) vị trí xe ô tô tải 62C-148.77: đang đỗ trên đường, đầu xe hướng về thị trấn T, tâm trục bánh sau xe đo vuông gốc vào mép đường chuẩn là 0m10 và cách tâm vết máu (1) là 34m55. T4 trục bánh trước bên phải xe đo vuông gốc vào mép đường chuẩn là 0m20.
Tại bản cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã truy tố bị cáo Đặng Trần Tấn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đặng Trần Tấn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Trong phần luận tội ông Kiểm sát viên đã phân tích đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Trần Tấn T 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo 05 năm thử thách.
Đền nghị HĐXX áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi mình đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, trước khi lái xe bị cáo có sử dụng ma túy tổng hợp, bị cáo xin được hưởng án treo để nuôi cha bị bệnh tai biến liệt nữa thân người.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại CQĐT đồng thời còn phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở khẳng định: Lúc 05 giờ 30 phút ngày 27/3/2024, tại km 08+900m đường tỉnh 818 thuộc Ấp C, xã T, huyện T, Đặng Trần Tấn T có giấy phép lái xe theo quy định đã điều khiển xe ô tô tải biển số 62C-148.77 mà trong cơ thể có chất ma túy và không chú ý quan sát nên va chạm vào người ông Lê Văn Đ đang đi bộ cùng chiều phía trước gây ra tai nạn giao thông đường bộ. Hành vi của bị cáo T đã vi phạm khoản 7, khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Hậu quả: tai nạn làm ông Đ bị thương sau đó tử vong tại chỗ.. Do đó hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó không chỉ trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của bị hại mà còn xâm phạm đến an toàn- trật tự công cộng nên cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ như: sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; đại diện bị hại có đơn xác nhận là sau tang lễ gia đình ông Đặng Đức T1 nhiều lần đề nghị đưa cho gia đình ông Lê Ngọc H 100.000.000đ để bồi thường thiệt hại nhưng ông H từ chối không nhận và ông T1 đã trích một phần tiền để gửi cho chùa nơi gửi tro cốt của ba ông H; đại diện bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo là lao động chính trong gia đình để nuôi cha bị tai biến liệt nữa thân người đi lại, sinh hoạt cần người chăm sóc do cha mẹ của bị cáo đã ly hôn; bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, đủ điều kiện được hưởng án treo theo Nghị quyết 02/2018/HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2022/HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối Cao nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo được hưởng án treo giao cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục cũng đủ sức răn đe và phòng ngừa chung. Đồng thời cũng thể hiện được tính nhân văn của pháp luật là tạo điều kiện cho bị cáo chăm sóc cha bị bệnh tai biến.
[4] Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã phản ánh đúng hành vi mà bị cáo T đã thực hiện, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đề nghị của ông Kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: ông Lê Ngọc H đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên HĐXX không xem xét.
[6] Về vật chứng: Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện T có tạm giữ phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, hiện đã trao trả cho chủ sỡ hữu. Xét thấy việc xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an huyện T là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Đối với ông Đặng Đức T1 khi giao xe ô tô tải biển số 62C-148.77 cho bị cáo T thì ông T1 không biết T có sử dụng chất ma túy. Cơ quan CSĐT Công an huyện T không xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông T1 là có căn cứ.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo: Đặng Trần Tấn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 65 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Đặng Trần Tấn T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 02/12/2024).
Giao bị cáo Đặng Trần Tấn T về Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Long An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Đặng Trần Tấn T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi năm 2017.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Đặng Trần Tấn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo, ông Đặng Đức T1 và đại diện hợp pháp bị hại biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 02/12/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tuấn |
Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN về hình sự - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 73/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Trần Tấn T
