|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 73/2024/DS-ST Ngày: 29-11-2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trịnh Ngọc Thành
- Bà Trần Thị Yến Nhi.
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên – Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 29/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 12/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 01 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST – DS ngày 31 tháng 10 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 59/2024/QÐST – DS ngày 18 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Anh Lê Tuấn A, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Tổ dân phố C, T, huyện B, tỉnh Quảng Bình. - Người đại diện theo ủy quyền của anh A: Anh Nguyễn Ngọc H, địa chỉ: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: Số A, L, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo hợp đồng ủy quyền ngày 05/12/2023).
-
Bị đơn: Ông Trịnh Đắc S, sinh năm 1967
Địa chỉ: Ấp E, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào năm 2023 do có nhu cầu thu mua số lượng lớn trái sầu riêng để kinh doanh nên anh A có tìm hiểu và quen biết với ông Trịnh Đắc S. Qua giới thiệu anh A được biết ông S là người chuyên kinh doanh buôn bán trái sầu riêng lâu năm. Vì tin tưởng nên ngày 12/09/2023, anh Lê Tuấn A và ông Trịnh Đắc S có ký kết hợp đồng về việc mua bán hàng hóa, cụ thể như sau:
Bên mua là anh Lê Tuấn A (Bên A), Bên bán là ông Trịnh Đắc S (bên B), các bên thỏa thuận số lượng mua bán là 150.000kg sầu riêng với giá 12.937.500.000 đồng (bằng chữ: mười hai tỉ chín trăm ba mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng) hai bên thỏa thuận việc giao hàng được thực hiện hằng ngày. Mỗi ngày bên bán phải giao khối lượng 20 tấn/ngày. Thời gian giao hàng từ ngày 20/09/2023 đến ngày 30/09/2023.
Phương thức thanh toán: Bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng. Bên mua phải đặt cọc 10% giá trị hợp đồng tương đương số tiền 1.293.750.000 đồng (bằng chữ: một tỉ hai trăm chín mươi ba triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Đến ngày 30/09/2023 mà bên B không giao hàng thì bên B phải hoàn cọc và bồi thường 10% giá trị hợp đồng, trường hợp đến hết ngày 30/09/2023 mà bên B chưa giao đủ khối lượng hàng đã thỏa thuận thì bên B phải hoàn trả lại tiền cọc và bồi thường 10% trên giá trị hàng còn thiếu.
Thực hiện thỏa thuận trong hợp đồng nêu trên giữa anh A và ông Trịnh Đắc S:
- Trong 02 ngày 13/09/2023 và ngày 14/09/2023 anh A đã chuyển số tiền cọc 1.293.750.000 đồng (bằng chữ: một tỉ hai trăm chín mươi ba triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) vào tài khoản ngân hàng của ông Trịnh Đắc S (số tài khoản 5409236220867 - Ngân hàng : chi nhánh Đ). Ngày 18/09/2023 ông Trịnh Đắc S giao được 01 xe hàng trái cây sầu riêng giá trị 568.620.000 đồng (bằng chữ: năm trăm sáu mươi tám triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng).
- Trong ngày 18/09/2023 và ngày 19/09/2023 anh A chuyển tiếp số tiền 1.068.621.000 (bằng chữ: một tỉ không trăm sáu mươi tám triệu, sáu trăm hai mươi mốt nghìn đồng) vào tài khoản ông Trịnh Đắc S để thanh toán tiền hàng. Ngày 21/09/2023, ông Trịnh Đắc S giao tiếp đơn hàng giá trị 133.875.000 đồng (bằng chữ: một trăm ba mươi ba triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Ngày 22/09/2023, ông Trịnh Đắc S giao tiếp đơn hàng giá trị 958.005.000 đồng (bằng chữ: chín trăm năm mươi tám triệu không trăm lẻ năm nghìn đồng).
- Trong ngày 22/09/2023 anh A chuyển tiếp số tiền 591.880.000 (bằng chữ: năm trăm chín mươi mốt triệu, tám trăm tám mươi nghìn đồng) vào tài khoản ông Trịnh Đắc S để thanh toán tiền hàng. Ngày 25/09/2023, ông Trịnh Đắc S giao tiếp đơn hàng giá trị 595.725.000 đồng (bằng chữ: năm trăm chín mươi lăm triệu, bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Tuy nhiên, đến ngày 27/09/2023 do không thấy giao hàng theo thỏa thuận nên anh A có liên lạc ông Trịnh Đắc S yêu cầu giao hàng theo thỏa thuận nhưng ông S đưa ra nhiều lý do để trì hoãn việc giao hàng. Sau đó nhiều ngày sau anh A cố tình liên lạc lại thì ông S cắt đứt mọi liên lạc với anh A.
Số tiền anh A đã chuyển khoản cho ông Nguyễn Đắc S (bao gồm cả tiền cọc) là 2.954.251.000 đồng (bằng chữ: hai tỉ chín trăm năm mươi bốn triệu hai trăm năm mươi mốt nghìn đồng) trong khi giá trị hàng hóa do ông Trịnh Đắc S giao cho anh A chỉ là 2.256.225.000 đồng (bằng chữ: hai tỉ hai trăm năm mươi sáu triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo đó số tiền ông Trịnh Đắc S còn đang nợ anh A là 698.026.000 đồng (bằng chữ: sáu trăm chín mươi tám triệu không trăm hai mươi sáu nghìn đồng) chính hành vi của ông Trịnh Đắc S gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh A, gây ảnh hưởng rất lớn đến việc kinh doanh của anh A.
Nay anh A khởi kiện yêu cầu Tòa án thụ lý giải quyết những yêu cầu sau đây:
- Buộc ông Trịnh Đắc S hoàn trả lại anh A số tiền 698.026.000 đồng (Sáu trăm chín mươi tám triệu không trăm hai mươi sáu nghìn đồng) là số tiền mà anh A đã đặt cọc và thanh toán theo hợp đồng mua bán.
- Buộc ông Trịnh Đắc S phải thanh toán thêm khoản tiền phạt 10% giá trị hợp đồng là 1.057.512.000 đồng (bằng chữ: một tỉ không trăm năm mươi bảy triệu năm trăm mười hai nghìn đồng).
Số tiền phạt trên được tính dựa trên thỏa thuận tại Điều 2 của hợp đồng mua bán “Đến ngày 30/09/2023 mà bên B không giao hàng thì bên B phải hoàn cọc và bồi thường 10% giá trị hợp đồng, trường hợp đến hết ngày 30/09/2023 mà bên B chưa giao đủ khối lượng hàng đã thỏa thuận thì bên B phải hoàn trả lại tiền cọc và bồi thường 10% trên giá trị hàng còn thiếu” cụ thể đến ngày 30/09/2023 ông S chỉ mới giao hàng hóa giá trị 2.256.225.000 đồng trong khi giá trị hàng hóa hai bên thỏa thuận là 12.937.500.000. số tiền phạt theo hợp đồng là: (12.937.500.000 - 2.256.225.000) x 10% = 1.068.127.500 (bằng chữ: một tỉ không trăm sáu mươi tám triệu một trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm đồng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua xem xét đánh giá các chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Tuấn A buộc ông Trịnh Đắc S phải có trách nhiệm thanh toán cho anh Lê Tuấn A số tiền nợ hàng là 698.026.000 đồng và tiền phạt vi phạm hợp đồng là 1.068.127.500 đồng, tổng cộng là 1.766.153.500 đồng.
- Ông S phải chịu chịu chi phí tố tụng sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Ông S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết:
Ngày 08/12/2023, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú nhận đơn khởi kiện của anh A đối với ông S có địa chỉ tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ theo điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/20217 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xác định vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
[2]. Về quan hệ pháp luật và tư cách đương sự:
Anh Lê Tuấn A khởi kiện yêu cầu ông S trả số tiền còn nợ trong hợp đồng mua bán và tiền phạt của hợp đồng mua bán. Căn cứ theo khoản 3, Điều 26, Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” và xác định anh A là nguyên đơn, ông S là bị đơn.
[3]. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 1 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[4]. Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền mua bán tài sản là 698.026.000 đồng và thanh toán thêm khoản tiền phạt 10% giá trị hợp đồng là 1.057.512.000 đồng.
Xét thấy:
[4.1]. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn cung cấp cho Tòa án “Hợp đồng mua bán” ngày 12/9/2023 giữa bên mua (gọi tắt là Bên A) là anh Lê Tuấn A và bên bán (gọi tắt là Bên B) là ông Trịnh Đắc S, nội dung hợp đồng thể hiện các bên thỏa thuận sản phẩm mua bán là sầu riêng thái, khối lượng là 150.000kg, với số tiền là 12.937.500.000 đồng.
[4.2]. Do bị đơn đã đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc nên Tòa án không thể yêu cầu bị đơn xác định chữ ký và chữ viết mang tên Trịnh Đắc S trong hợp đồng mua bán ngày 12/9/2023. Tòa án đã trưng cầu giám định tại Phòng K Công an tỉnh Đ đối với chữ ký và chữ viết của ông Trịnh Đắc S trong hợp đồng mua bán ngày 12/9/2023 với chữ ký và chữ viết mang tên Trịnh Đắc S trên các tài liệu đã được Tòa án thu thập bao gồm: Tài liệu có tiêu đề “TỜ KHAI CHỨNG MINH NHÂN DÂN” ghi ngày 19/12/2019 của ông Trịnh Đắc S và ngày 30/01/2016, “CHỈ BẢN” lập ngày 30/01/2016 có dấu vân tay của ông Trịnh Đắc S.
Theo Kết luận giám định số 1684/KL-KTHS ngày 09/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ xác định chữ ký và chữ viết mang tên Trịnh Đắc S trong hợp đồng mua bán ngày 12/9/2023 với chữ ký và chữ viết mang tên Trịnh Đắc S trên các tài liệu so sánh là do ông Trịnh Đắc S viết và ký tên (bút lục 104).
[5.3]. Về số tiền nguyên đơn đã chuyển cho bị đơn:
Anh Lê Tuấn A là chủ số tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh Q, còn ông Trịnh Đắc S là chủ số tài khoản 5409236220867 mở tại Ngân hàng : Chi nhánh Đ. Kết quả sao kê giao dịch giữa số tài khoản 103872322574 của anh Lê Tuấn A và số tài khoản 5409236220867 của ông Trịnh Đắc S, thể hiện:
- Trong 02 ngày 13/09/2023 và ngày 14/09/2023 anh A đã chuyển số tiền cọc 1.293.750.000 đồng (bằng chữ: một tỉ hai trăm chín mươi ba triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) vào tài khoản ngân hàng của ông Trịnh Đắc S (số tài khoản 5409236220867 - ngân hàng : chi nhánh Đ) để thanh toán tiền hàng.
- Trong ngày 18/09/2023 và ngày 19/09/2023 anh A chuyển tiếp số tiền 1.068.621.000 (bằng chữ: một tỉ không trăm sáu mươi tám triệu, sáu trăm hai mươi mốt nghìn đồng) vào tài khoản ngân hàng của ông Trịnh Đắc S (số tài khoản 5409236220867 - Ngân hàng : Chi nhánh Đ) để thanh toán tiền hàng.
- Trong ngày 22/09/2023 anh A chuyển tiếp số tiền 591.880.000 (bằng chữ: năm trăm chín mươi mốt triệu, tám trăm tám mươi nghìn đồng) vào tài khoản ngân hàng của ông Trịnh Đắc S (số tài khoản 5409236220867 - Ngân hàng : Chi nhánh Đ) để thanh toán tiền hàng.
Như vậy, tổng số tiền anh A đã chuyển khoản cho ông Trịnh Đắc S (bao gồm cả tiền cọc) là 2.954.251.000 đồng (bằng chữ: hai tỉ chín trăm năm mươi bốn triệu hai trăm năm mươi mốt nghìn đồng) là hoàn toàn có thật.
Anh Lê Tuấn A thừa nhận giá trị hàng hóa do ông Trịnh Đắc S giao cho anh A là 2.256.225.000 đồng (bằng chữ: hai tỉ hai trăm năm mươi sáu triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo đó số tiền ông Trịnh Đắc S còn đang nợ anh A là 698.026.000 đồng (bằng chữ: sáu trăm chín mươi tám triệu không trăm hai mươi sáu nghìn đồng), đây là tình tiết được nguyên đơn thừa nhận nên không phải chứng minh.
[4.4]. Về trách nhiệm cung cấp chứng cứ: Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định nghĩa vụ chứng minh như sau: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định việc giao nộp chứng cứ như sau: “Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ. Nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật này để giải quyết vụ việc dân sự”.
Theo quy định trên, thì ông S có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh việc ông S thanh toán đầy đủ số hàng hóa cho anh Tuấn A theo số tiền đã nhận nêu trên. Tuy nhiên, ông S không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập nên xác định ông S đã từ chối thực hiện quyền này, nếu có thiệt hại xảy ra thì ông S phải chịu toàn bộ thiệt hại do mình gây ra.
[6]. Như vậy, giữa anh A và ông S có sự xác lập hợp đồng mua bán trái sầu riêng ngày 12/9/2023 với nhau là hoàn toàn có thật. Anh Lê Tuấn A đã chuyển cho ông S tổng số tiền 2.954.251.000 đồng, anh Lê Tuấn A đã nhận giá trị hàng hóa do ông Trịnh Đắc S giao cho anh A là 2.256.225.000 đồng theo đó số tiền ông Trịnh Đắc S còn đang nợ anh A là 698.026.000 đồng, anh A đã yêu cầu nhiều lần nhưng ông S không giao số lượng hàng hóa còn lại như đã thỏa thuận, là vi phạm về nghĩa vụ dân sự đã cam kết. Xét yêu cầu khởi kiện của anh A là có căn cứ và phù hợp theo quy định pháp luật nên được chấp nhận.
[7]. Về phạt hợp đồng: Điều III của hợp đồng mua bán các bên thỏa thuận "Đến ngày 30/09/2023 mà bên B không giao hàng bên A thì bên B phải hoàn cọc và bồi thường 10% giá trị hợp đồng. Trường hợp đến hết ngày 30/09/2023, nếu bên B chưa giao đủ khối lượng hàng đã thỏa thuận thì bên B phải hoàn trả lại tiền cọc và bồi thường 10% trên giá trị hàng còn thiếu”.
Tính đến ngày 30/09/2023 ông S chỉ mới giao hàng hóa giá trị 2.256.225.000 đồng trong khi giá trị hàng hóa hai bên thỏa thuận là 12.937.500.000 đồng. Như vậy, ông S đã vi phạm hợp đồng mua bán các bên đã ký kết. Nay nguyên đơn yêu cầu phạt hợp đồng theo quy định tại Điều III của hợp đồng mua bán là có căn cứ chấp nhận:
Số tiền phạt hợp đồng được tính như sau: 12.937.500.000 đồng - 2.256.225.000 đồng) x 10% = 1.068.127.500 đồng (bằng chữ: một tỉ không trăm sáu mươi tám triệu một trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm đồng.
[8] Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh A, buộc ông S phải thanh toán cho anh A số tiền gốc và tiền phạt hợp đồng là 1.766.153.500 đồng.
[9] Về chi phí tố tụng: - Do ông S không đến Tòa án làm việc nên anh A phải thực hiện thủ tục giám định và tạm ứng tiền chi phí giám định. Kết quả giám định xác định giấy cam kết, tại mục người viết vay tiền có chữ kỹ và chữ viết mang tên Trịnh Đắc S do ông S viết. Như vậy, ông S phải chịu tiền chi phí giám định theo Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo các hóa đơn phải chi cho việc giám định là 10.000.000 đồng, nên ông S phải hoàn trả lại cho anh A tiền chi phí giám định là 10.000.000 đồng.
Chi phí tố tụng về cấp, tống đạt, trên phương tiện thông tin đại chúng là 10.000.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của anh A được chấp nhận nên ông S phải chịu chi phí tố tụng về cấp, tống đạt, trên phương tiện thông tin đại chúng là 10.000.000 đồng. Anh A đã tạm ứng chi phí tố tụng về cấp, tống đạt, trên phương tiện thông tin đại chúng nên ông S phải nộp lại số tiền này để hoàn trả cho anh A.
[10]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên anh A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông S phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39, 95, 147, 161, 180, 228, 235, 266, 267 và 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Các Điều 357, 430, 431, 433, 434, 437, 440 và 468 Bộ luật Dân sự.
- Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/20217 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” của anh Lê Tuấn A đối với ông Trịnh Đắc S.
Buộc ông Trịnh Đắc S phải có trách nhiệm thanh toán cho anh Lê Tuấn A số tiền nợ mua bán hàng hóa là 698.026.000 đồng và tiền phạt vi phạm hợp đồng là 1.068.127.500 đồng, tổng cộng là 1.766.153.500 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền phải trả, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự. - Về chi phí tố tụng: Buộc ông Trịnh Đắc S phải hoàn trả lại cho anh Lê Tuấn A chi phí tố tụng về cấp, tống đạt, trên phương tiện thông tin đại chúng và chi phí giám định, tổng cộng là 20.000.000 đồng.
-
Về án phí:
Ông Trịnh Đắc S phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 64.984.600 đồng.
Hoàn trả lại cho anh Lê Tuấn A 32.333.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0012866 ngày 16/01/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú. - Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Bá Đại |
Bản án số 73/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Số bản án: 73/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản giữa anh A và ông S
