TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 73/2024/HS-ST
Ngày: 19/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thế Bình
Bà Trần Thị Hải Anh
-Thư ký phiên toà: Ông Đoàn Minh Toàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nam Trực.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Lê Duy Khôi – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định mở phiên toà sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 73/2024/HSST ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/HSST- QĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Đ; sinh ngày 01/01/1994; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT, nơi ở: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Đảng phái: Không. Con ông Nguyễn Văn A, (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1970. Có vợ là Đoàn Thị Minh T, sinh năm 1999. Có hai con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023.
Tiền án: Không.
Tiền sự:
- - Ngày 26/10/2023, bị Công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, bằng hình thức phạt tiền 350.000 đồng (đã nộp phạt ngày 26/10/2023).
- - Ngày 22/8/2024, Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, với thời hạn 24 tháng (chưa chấp hành).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/10/2024 đến ngày 11/10/2024 chuyển tạm giam, đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 06/10/2024, bị cáo đi xe ôm của một người đàn ông không quen biết từ xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định với mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân, khi đi đến khu vực đường T thuộc thôn Q, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Bị cáo xuống xe đi bộ vào khu vực đường Đ thuộc địa phận thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Tại đây, bị cáo gặp và mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 gói giấy màu trắng chứa Heroine với giá 200.000 đồng. Bị cáo cầm số ma túy vừa mua được cất giấu vào túi áo khoác phía trước bên trái rồi đi bộ để đón xe về nhà. Khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, khi bị cáo đi đến khu vực trước cửa cây xăng thuộc địa phận thôn Q, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang kiểm tra hành chính phát hiện tại túi áo khoác phía trước bên trái của bị cáo 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, bị cáo khai nhận đây là H1 mua về để sử dụng cá nhân. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, tiến hành niêm phong vật chứng và đưa bị cáo về trụ sở Ủy ban nhân dân xã N để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vật chứng Công an huyện N gồm: 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng được niêm phong trong phong bì thư dán kín mép có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu của Công an xã N, ký hiệu “M”. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không thu giữ đồ vật, tài liệu.
Tại Kết luận giám định số 1694/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu M: 0,138 gam.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.
Bản cáo trạng số: 76/CT-VKS ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn Đ từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy được đựng trong phong bì thư của Phòng K Công an tỉnh N.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 06/10/2024; Biên bản khám xét ngày 07/10/2024; Bản kết luận giám định số 1694/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh N; Biên bản ghi lời khai người chứng kiến anh Nguyễn Văn T1, anh Trần Văn T2... Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 06/10/2024, tại khu vực cây xăng thuộc thôn Q, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 0,138 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
[4] Về hình phạt: Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy là vật mà Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy.
[7] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có căn cứ để điều tra, xử lý là đúng quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Xử phạt Nguyễn Văn Đ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn được tính kể từ ngày 06/10/2024.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy được đựng trong phong bì thư số 1694/KL-KTHS của Phòng K, Công an tỉnh N có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/10/2024 giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực.
3. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Mạnh Cường |
Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 73/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
