|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 73/2024/HS-ST Ngày: 08 - 11 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trần Đình Trường |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Lê Hoàng Phúc |
| Ông Nguyễn Thanh Bình |
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đinh Công Quảng - Kiểm sát Viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2024/TLST-HS, ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Khắc H, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1997, tại tỉnh Bình Thuận.
Nơi cư trú: Thôn F, xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Khắc H1 và bà Nguyễn Thị L; Vợ: Hoàng Thị Mỹ L1; Con có một người, sinh năm 2018;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 07/7/2024 có hành vi Trộm cắp tài sản tại xã M, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0041887/QĐ-XPHC, ngày 19/7/2024 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Bình Thuận xử phạt số tiền 2.500.000 đồng.
Nhân thân: Ngày 15/02/2015, có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, bị Công an huyện T xử phạt hành chính.
Bị cáo bị bắt ngày 16/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ. Có mặt.
Bị hại: Họ Đạo T; địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Phương T-Phó trị sự, Trưởng ban hành chánh. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Thị Thu S, sinh năm 1972; nơi cư trú: Xóm B, thôn G, xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 09/7/2024 Lê Khắc H điều khiển xe mô tô của gia đình đi từ xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận đến huyện Đ nhằm mục đích tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Lê Khắc H chạy xe trên đường Đ từ xã M đến khu vực nghĩa địa thị trấn Đ, huyện Đ nhưng không tìm được tài sản để trộm cắp. Lê Khắc H quay lại xã M và lẻn vào Thánh Thất T-Họ Đạo T tại thôn C, xã M, huyện Đ chiếm đoạt 03 Chuông đồng, 01 Lư hương và đập bể 01 con heo đất lấy 500.000 đồng rồi mang tài sản về xã N, huyện T bán 01 Lư hương, 03 Chuông đồng cho bà Huỳnh Thị Thu S là chủ vựa thu mua phế liệu ở thôn G, xã N, huyện T được số tiền 1.760.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 78/KL-HĐĐGTS, ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá huyện Đ kết luận:
- - 01 chiếc Chuông (loại chuông gõ kêu) bằng kim loại màu đồng, kích thước: cao 33,5cm x đường kính miệng chuông 42cm, trị giá 10.500.000 đồng;
- - 01 chiếc Chuông (loại chuông gõ kêu) bằng kim loại màu đồng, kích thước: cao 9cm x đường kính miệng chuông 11,5cm, trị giá 1.167.000 đồng;
- - 01 chiếc Chuông (loại chuông lắc kêu) bằng kim loại màu đồng, kích thước: cao 18 cm x đường kính miệng chuông 9,5cm, trị giá 367.000 đồng;
- - 01 Lư hương bằng kim loại màu đồng, kích thước: cao 41,5cm x ngang 23,5cm, trị giá 1.233.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản định giá là 13.267.000 đồng.
Về vật chứng:
Qúa trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ và trả lại cho Thánh Thất Trung T1-Họ Đạo Trung Thạnh: 01 chiếc Chuông (loại chuông gõ kêu) bằng kim loại màu đồng, kích thước: cao 33,5cm x đường kính miệng chuông 42 cm; 01 chiếc Chuông (loại chuông gõ kêu) bằng kim loại màu đồng, kích thước: cao 9cm x đường kính miệng chuông 11,5cm; 01 chiếc Chuông (loại chuông lắc kêu) bằng kim loại màu đồng, kích thước: cao 18 cm x đường kính miệng chuông 9,5cm; 01 Lư hương bằng kim loại màu đồng, kích thước cao 41,5cm x ngang 23,5cm.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Họ Đạo Trung Thạnh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 500.000 đồng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Thu S không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 1.760.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 66/CT-VKSĐL-HS ngày 27 tháng 9 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố Lê Khắc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa trong phần tranh tụng:
Bị cáo Lê Khắc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan.
Trong phần tranh luận:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân của bị cáo từ đó đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về điều luật: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Khắc H phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
- Về vật chứng: Truy thu, sung công quỹ Nhà nước số tiền 2.260.000 đồng, do bị cáo phạm tội mà có và khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội.
Bị cáo, đại diện bị hại không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và tội danh:
Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Kết luận định giá tài sản, cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 09 tháng 07 năm 2024, Lê Khắc H đi từ xã N, huyện T lên xã M, huyện Đ tìm kiếm tài sản để chiếm đoạt. Khi đến khu vực Thánh Thất T-Họ Đạo T tại thôn C, xã M, huyện Đ phát hiện không có người trông coi, nên Lê Khắc H đã lén lút đi vào chiếm đoạt 03 Chuông đồng, 01 Lư hương và 01 con heo bên trong có số tiền 500.000. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 13.767.000 đồng.
Lê Khắc H là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Vì vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2] Tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, một mặt xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, ngoài ra còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong việc quản lý tài sản của người dân.
Cho nên, cần xem xét hình phạt nghiêm khắc tương xứng với mức độ phạm tội của bị cáo, nhằm để răn đe giáo dục bị cáo thành người biết tôn trọng pháp luật và phòng ngừa tội phạm chung.
Về nhân thân, tiền sự: Năm 2015, bị cáo có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, bị Công an huyện T xử phạt hành chính. Trước thời điểm thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong vụ án này, ngày 07/07/2024 bị cáo hành vi chiếm đoạt 01 chiếc bình ắc quy, trị giá 1.000.000 đồng tại xã M, huyện T đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng, tại quyết định số 00041887, ngày 19/7/2024.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại phiên Toà đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, cần lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt tương ứng với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.
[3] Về hình phạt chính:
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn như đề nghị của Đại diện viện kiểm sát là phù hợp lý, đủ sức răn đe.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp.
[5] Về xử lý vật chứng:
Qúa trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ và trả lại cho Thánh Thất T-Họ Đạo Trung Thạnh các tài sản gồm 01 chiếc Chuông (loại chuông gõ kêu) bằng kim loại màu đồng, kích thước: Cao 33,5cm x đường kính miệng chuông 42cm; 01 chiếc Chuông (loại chuông gõ kêu) bằng kim loại màu đồng, kích thước: Cao 9cm x đường kính miệng chuông 11,5cm; 01 chiếc Chuông (loại chuông lắc kêu) bằng kim loại màu đồng, kích thước: Cao 18 cm x đường kính miệng chuông 9,5cm; 01 Lư hương bằng kim loại màu đồng kích thước: Cao 41,5cm x ngang 23,5cm theo đúng quy định, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Sau khi chiếm đoạt 01 Lư hương, 03 chiếc Chuông bị cáo bán cho bà Huỳnh Thị Thu S được số tiền 1.760.000 đồng, hiện số tài sản này đã bị thu hồi và trả lại cho bị hại, bà S không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền này, đây là số tiền thu lợi bất chính mà có; đồng thời quá trình thực hiện hành vi bị cáo chiếm đoạt 500.000 đồng tiền mặt, bị hại không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Nên cần truy thu, sung công quỹ Nhà nước.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong điều tra, truy tố, xét xử:
Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh được phân công điều tra, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[8] Bà Huỳnh Thị Thu S mua 01 Lư hương, 03 chiếc Chuông nhưng không biết là tài sản do trộm cắp mà có, nên Cơ quan cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV;
1. Tuyên bố: Lê Khắc H phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt Lê Khắc H 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 16/8/2024).
2. Về vật chứng:
Buộc Lê Khắc H phải nộp lại số tiền 2.260.000 đồng (Hai triệu hai trăm sáu mươi ngàn đồng) sung công quỹ Nhà nước.
3. Về án phí: Lê Khắc H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Trường |
Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 73/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Khăc Hậu "Trộm cắp tài sản"
