|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 73/2024/HSST Ngày: 28/10/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Lam, bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Thoả. Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2024. Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2024/HSST, ngày 02 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST-HS, ngày 14/10/2024, đối với:
1. Bị cáo: Trần Văn S, sinh ngày 25/7/1988. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Thẻ CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Trần Văn T, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1959; vợ: Tô Thị X, sinh năm 1991; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2023 cho đến ngày 08/01/2024 thì tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm như sau: Theo lời khai của Trần Văn S thì vào cuối tháng 10/2023 (không nhớ ngày), Thái Đăng H (sinh năm 1984, trú tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An), sử dụng tài khoản Facebook có tên “Thai Hung” gọi cho S qua ứng dụng M nói: “Có thùng pháo anh gửi về, nhờ lấy bán hộ cho anh với” và hứa với S khi bán được pháo thì sẽ cho S tiền xăng xe, chi phí đi lại và cho S một khối pháo để sử dụng dịp Tết Nguyên đán năm 2024, thì S đồng ý. Sau đó một ngày, H gọi điện nói S ra khu vực ngã ba xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An chờ xe khách để lấy pháo thì S đồng ý rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại xe WAVE ALPHA, biển kiểm soát 37L3-9615 (mượn của ông Trần Văn T1, sinh năm 1959, trú thôn L, xã T, huyện T) đến khu vực ngã ba xã T, huyện T chờ xe khách để lấy pháo. Tại đây, sau khi trao đổi với phụ xe (S không nhớ biển số xe khách, nhà xe nào) xác nhận đúng là người nhận thì phụ xe đưa cho S 02 (hai) thùng xốp màu trắng, S biết đó là pháo do H gửi về nên buộc vào xe mô tô rồi chở về nhà. Trên đường về thì H gọi điện hỏi S: “Đã nhận được chưa?” (ý hỏi S đã nhận được pháo chưa), thì S trả lời: “Nhận được rồi”. Khi về đến nhà ở thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, S mở hai thùng xốp mà H gửi ra kiểm tra thì thấy bên trong hai thùng xốp có nhiều khối pháo nổ loại 49 quả do nước ngoài sản xuất, nhưng S không kiểm đếm số lượng cụ thể. Sau đó, S mang hai thùng xốp chứa pháo nói trên cất giấu tại khu vực chuồng trâu của gia đình, chờ khi nào H gọi điện bảo mang đi bán cho khách thì S sẽ lấy mang đi.
Đến giữa tháng 11 năm 2023 (không nhớ ngày), Nguyễn Văn H1, sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã T, huyện T nhờ Võ Văn L, sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã T, huyện T, Nghệ An mua hộ 02 (hai) khối pháo loại 49 quả và Phan Văn M1, sinh năm 1975, trú tại thôn T, xã T, huyện T nhờ L mua hộ 01 (một) khối pháo loại 49 quả, thì L đồng ý. Theo lời khai của Võ Văn L thì mấy ngày sau khi Nguyễn Văn H1 và Phan Văn M1 nhờ L mua hộ pháo thì Thái Đăng H sử dụng tài khoản Zalo có tên “Thái Đăng H” gọi cho L hỏi “Có pháo đây, mi có lấy dùng không?” (ý H hỏi L có mua pháo nổ không), thì L hỏi: “pháo chi? Khối mấy tiền”. H nói: “Loại 49, một khối một triệu” (ý H nói pháo loại 49 quả, giá một khối là 1.000.000 đồng). Nghe vậy, L nói với H: “Có thì để tau 03 khối về dùng” (ý L muốn mua của H 03 khối pháo), thì H đồng ý và nói sẽ có người đưa pháo đến cho L.
Sau đó mấy ngày, H sử dụng ứng dụng M gọi cho S nói: “Đưa cho anh Long L1 ba cối” (ý bảo S đưa cho Võ Văn L, sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã T, huyện T ba khối pháo) thì S đồng ý. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cuối tháng 11 năm 2023 (không nhớ ngày), S ra khu vực chuồng trâu lấy 03 (ba) khối pháo rồi đưa đến giao cho L tại nhà L và nói đây là pháo mà H nói S giao cho L, đồng thời nói với L chuyển tiền mua pháo cho H, rồi đi về. Đến ngày 07/12/2023, L sử dụng tài khoản 5111388138 thuộc ngân hàng B mang tên Võ Văn L chuyển số tiền mua pháo là 3.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng B số [...] mang tên “DANG QUOC PHU” do H cung cấp. Ít ngày sau, L đem 03 khối pháo đã mua trước đó đến nhà giao cho Nguyễn Văn H1 02 khối và Phan Văn M1 01 khối, nhưng H1 và M1 đều chưa trả tiền mua pháo cho L.
Khoảng 02 tuần sau, L tiếp tục liên lạc qua Zalo, đặt mua của H 02 khối pháo nổ loại 49 quả để L sử dụng vào dịp Tết Nguyên đán 2024, thì H đồng ý rồi sử dụng ứng dụng M gọi cho S, nói S đưa cho L 02 (hai) khối pháo nổ loại 49 quả. Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 13/12/2024, S lấy 02 (hai) khối pháo đưa đến giao cho L tại nhà L và nói với L chuyển tiền mua pháo cho H, rồi đi về. Ngày 15/12/2024, L sử dụng số tài khoản của mình chuyển số tiền mua pháo là 2.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng B số [...] mang tên “DANG QUOC PHU” do H cung cấp.
Đến ngày 29/12/2024, Trần Văn Ngọc A, sinh năm 2008, trú tại xóm C, xã T, huyện T, Nghệ An trong quá trình sử dụng mạng xã hội Facebook thấy tài khoản có tên “Thai Hung” (Là tài khoản Facebook của Thái Đăng H) đăng tải bài viết với nội dung bán pháo nổ nên Ngọc A đã sử dụng ứng dụng M gọi đến tài khoản này hỏi mua. Ngọc A đặt mua của H 01 khối pháo nổ loại 49 quả, thì H đồng ý bán với giá 1.200.000 đồng. Thoả thuận xong, H hẹn Ngọc A vào lúc 12 giờ 00 phút ngày 30/12/2023, đến khu vực cầu H thuộc thôn Đ, xã T, huyện T, Nghệ An, chờ ở đó sẽ có người đưa pháo ra giao dịch. Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 30/12/2023, H sử dụng tài khoản Zalo có tên “Thái Đăng H” gọi cho S, nói S đưa 01 khối pháo ra bán cho một nam thanh niên tên đang chờ sẵn ở đó với giá 1.200.000 đồng thì S đồng ý. S lấy 01 khối pháo rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại xe WAVE ALPHA, biển kiểm soát 37L3-9615 đi đến khu vực cầu H, thôn Đ, xã T, huyện T. Tại đây, S đã đưa cho Ngọc A 01 khối pháo; sau khi nhận pháo thì ời Ngọc A đã chuyển số tiền mua pháo là 1.200.000 đồng vào tài khoản 31110000446187 thuộc ngân hàng B mang tên Trần Văn S cho S (Số tiền này sau đó S đã chuyển toàn bộ đến số tài khoản ngân hàng B số [...] mang tên “DANG QUOC PHU” do H cung cấp). Khi Ngọc A mang theo khối pháo vừa mua được đi về đến khu vực cầu D (cũ) thuộc thôn T, xã T, huyện T, Nghệ An, thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện, kiểm tra, thu giữ trên tay trái của Ngọc A 01 (Một) khối pháo nổ. Tổ công tác đã lập biên bản, thu giữ, niêm phong tang vật theo đúng quy định và đưa Trần Văn Ngọc A về trụ sở để làm rõ.
Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Trần Văn S đã đến Công an xã T đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi của mình đồng thời khai nhận đang cất giấu số pháo còn lại tại khu vực chuồng trâu của gia đình S thuộc thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Tiến hành khám xét khẩn cấp, Cơ quan điều tra đã thu giữ 02 (Hai) thùng xốp màu trắng, bên trong có tổng cộng 13 khối hình hộp chữ nhật (thùng thứ nhất có 03 khối; thùng thứ hai có 10 khối) có đặc điểm kích thước tương đồng nhau (17,5x17,5x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, có nhiều dòng chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối đều có 49 thỏi hình trụ có đặc điểm kích thước tương đồng nhau, đường kính 2,3 cm, chiều cao 10 cm (nghi là pháo nổ).
Đến 23 giờ 05 phút ngày 30/12/2023, Võ Văn L đã đến Công an huyện T, khai nhận toàn bộ sự việc và giao nộp 02 khối pháo hình hộp chữ nhật (loại 49 quả). Đến 01 giờ 05 phút ngày 31/12/2023, Nguyễn Văn H1 giao nộp 02 khối pháo hình hộp chữ nhật, loại 49 quả; Phan Văn M1 giao nộp 01 khối pháo hình hộp chữ nhật, loại 49 quả.
- Tại Biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại hồi 07 giờ 00 phút ngày 31/12/2023, của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xác định được:
- + 01 (một) khối hình hộp chữ nhật, kích thước (17,5×17,5x10)cm, bên ngoài bọc giấy hoa văn nhiều màu sắc, có nhiều dòng chữ nước ngoài, bên trong chứa 49 (bốn mươi chín) thỏi hình trụ có hình dạng, đặc điểm tương đồng nhau, đường kính mỗi thỏi là 2,3cm, chiều cao 10cm thu giữ của Trần Văn Ngọc A (ký hiệu M1) có khối lượng là 1,539 kg (một phẩy năm trăm ba mươi chín kilogam).
- + 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật, kích thước (17,5×17,5x10)cm, bên ngoài bọc giấy hoa văn nhiều màu sắc, có nhiều dòng chữ nước ngoài, bên trong chứa 49 (bốn mươi chín) thỏi hình trụ có hình dạng, đặc điểm tương đồng nhau, đường kính mỗi thỏi là 2,3cm, chiều cao 10cm do Nguyễn Văn H1 giao nộp (ký hiệu M2A) có khối lượng là 3,471 kg (ba phẩy bốn trăm bảy mươi mốt kilogam).
- + 01 (một) khối hình hộp chữ nhật, kích thước (17,5×17,5x10)cm, bên ngoài bọc giấy hoa văn nhiều màu sắc, có nhiều dòng chữ nước ngoài, bên trong chứa 49 (bốn mươi chín) thỏi hình trụ có hình dạng, đặc điểm tương đồng nhau, đường kính mỗi thỏi là 2,3cm, chiều cao 10cm do Phan Văn M1 giao nộp (ký hiệu M3) có khối lượng là 1,730 kg (một phẩy bảy trăm ba mươi kilogam).
- + 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật, kích thước (17,5×17,5x10)cm, bên ngoài bọc giấy hoa văn nhiều màu sắc, có nhiều dòng chữ nước ngoài, bên trong chứa 49 (bốn mươi chín) thỏi hình trụ có hình dạng, đặc điểm tương đồng nhau, đường kính mỗi thỏi là 2,3cm, chiều cao 10cm do Võ Văn L giao nộp (ký hiệu M4A) có khối lượng là 2,948 kg (hai phẩy chín trăm bốn mươi tám kilogam).
- + 03 (ba) khối hình hộp chữ nhật, kích thước (17,5×17,5x10)cm, bên ngoài bọc giấy hoa văn nhiều màu sắc, có nhiều dòng chữ nước ngoài, bên trong chứa 49 (bốn mươi chín) thỏi hình trụ có hình dạng, đặc điểm tương đồng nhau, đường kính mỗi thỏi là 2,3cm, chiều cao 10cm thu giữ trong thùng xốp màu trắng thứ nhất khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn S (ký hiệu M5A) có khối lượng là 4,533 kg (bốn phẩy năm trăm ba mươi ba kilogam).
- + 10 (mười) khối hình hộp chữ nhật, kích thước (17,5×17,5x10)cm, bên ngoài bọc giấy hoa văn nhiều màu sắc, có nhiều dòng chữ nước ngoài, bên trong chứa 49 (bốn mươi chín) thỏi hình trụ có hình dạng, đặc điểm tương đồng nhau, đường kính mỗi thỏi là 2,3cm, chiều cao 10cm thu giữ trong thùng xốp màu trắng thứ hai khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn S (ký hiệu M6A) có khối lượng là 15,688 kg (mười lăm phẩy sáu trăm tám mươi tám kilogam).
Ngày 01/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 75 đối với số pháo đã thu giữ. Tại Kết luận giám định số 75/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 05/01/2024, của Phòng K Công an tỉnh N đã kết luận:
- “- Mẫu vật (ký hiệu M1) thu giữ của Trần Văn Ngọc A gửi giám định là pháo, thuộc loại pháo nổ.
- - Mẫu vật (ký hiệu M2A) thu giữ của Nguyễn Văn H1 gửi giám định đều là pháo, thuộc loại pháo nổ.
- - Mẫu vật (ký hiệu M3) thu giữ của Phan Văn M1 gửi giám định là pháo, thuộc loại pháo nổ.
- - Mẫu vật (ký hiệu M4A) thu giữ của Võ Văn L gửi giám định đều là pháo, thuộc loại pháo nổ.
- - Các mẫu vật (ký hiệu M5A, M6A) thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn S gửi giám định đều là pháo, thuộc loại pháo nổ”.
Tại bản Cáo trạng số 68/CT-VKS-TC ngày 02/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương đã truy tố Trần Văn S, về tội “ Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn S, từ 18 – 21 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách gấp đôi. Tịch thu tiêu hủy: 13 khối pháo, có trọng lượng 20,381 kg (hai mươi phẩy ba trăm tám mươi mốt kilogam); tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S màu xanh-đen do Trần Văn S giao nộp. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Văn S, đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng; phù hợp với vật chứng thu được; phù hợp với biên bản phạm tội quả tang; phù hợp với kết luận giám định.
Xét về chứng cứ đã có đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng cuối tháng 11/2023 (không nhớ ngày), tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Trần Văn S đã có hành vi bán cho Võ Văn L (sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã T, huyện T) 03 (ba) khối pháo thuộc loại pháo nổ có khối lượng 5,201 kg (năm phẩy hai trăm linh một kilogam).
Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 13/12/2023, tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Trần Văn S đã có hành vi bán cho Võ Văn L (sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã T, huyện T) 02 (hai) khối pháo thuộc loại pháo nổ có khối lượng 2,948 kg (hai phẩy chín trăm bốn mươi tám kilogam).
Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 30/12/2023, tại khu vực cầu H thuộc thôn Đ, xã T, huyện T, Nghệ An, Trần Văn S đã có hành vi bán cho Trần Văn Ngọc A (sinh năm 2008, trú tại xóm C, xã T, huyện T, Nghệ An) 01 (một) khối pháo thuộc loại pháo nổ có khối lượng 1,539 kg (một phẩy năm trăm ba mươi chín kilogam).
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn S Cơ quan điều tra thu giữ 13 (mười ba) khối pháo thuộc loại pháo nổ có khối lượng 20.221 kg (hai mươi phẩy hai trăm hai mươi mốt kilogam) mà S cất dấu với mục đích để bán kiếm lời.
Tổng khối lượng pháo thuộc loại pháo nổ mà Trần Văn S đã bán và cất dấu với mục đích để bán là 29,909 kg (hai mươi chín phẩy chín trăm linh chín kilogam).
Như vậy đã có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Trần Văn S, phạm tội "Buôn bán hàng cấm”, như Viện kiểm sát truy tố là đúng.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, ảnh hưởng đến an ninh trật xã hội; hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về kinh tế (hàng hóa); pháo mà Trần Văn S tàng trữ để nhằm mục đích bán để kiếm lời, là mặt hàng bị Nhà nước cấm buôn bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép. Cho nên cần xét xử nghiêm, mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội đã đến Công an đầu thú; đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Cho nên cũng cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Xét thấy bị cáo lần đầu phạm tội, có nhiều tình giảm nhẹ, lại có nơi cư trú rõ ràng; cho nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ sức giáo dục và răn đe bị cáo.
[4] Về vật chứng: Quá trình điều tra có thu giữ: 19 (mười chín) khối pháo thuộc loại pháo nổ có tổng khối lượng 29,909 kg (hai mươi chín phẩy chín trăm linh chín kilogam); 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S màu xanh-đen do Trần Văn S giao nộp.
Xét thấy quá trình điều tra đã sử dụng hết 06 khối pháo có khối lượng 9,528 kg (chín phẩy năm trăm hai mươi tám kilogam) trong quá trình giám định, còn lại 13 khối pháo có trọng lượng 20,381 kg (hai mươi phẩy ba trăm tám mươi mốt kilogam), là vật chứng của vụ án, thì cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S màu xanh-đen do Trần Văn S giao nộp, là vật chứng Trần Văn S đã dùng trong quá trình giao dịch mua bán pháo, cho nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[5] Trong vụ án này, theo lời khai của Trần Văn S thì còn có người đàn ông tên Thái Đăng H là người đã gửi pháo để S bán cho Võ Văn L, Trần Ngọc A. Quá trình điều tra Thái Đăng H không có mặt tại địa phương; ngày 10/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã có Quyết định tách hành vi và tài liệu số 947 để tiếp tục xác minh làm rõ hành vi của Thái Đăng H, khi nào có đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý sau.
Đối với Nguyễn Văn H1, Phan Văn M1, Võ Văn L và Trần Văn Ngọc A là những người đã mua pháo của Trần Văn S với mục đích để sử dụng. Tuy nhiên khối lượng pháo không đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm”, nên Công an huyện T đã đã tham mưu Chủ tịch UBND huyện T ra Quyết định xử phạt hành chính là có căn cứ và đúng pháp luật.
Đối với Trần Văn T là người đã cho Trần Văn S mượn xe mô tô để S dùng làm phương tiện đi mua bán pháo nổ. Quá trình điều tra đã chứng minh được khi S mượn xe mô tô thì T không biết mục đích của S, nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với T là có căn cứ và đúng pháp luật.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn S, phạm tội “ Buôn bán hàng cấm”.
- Xử phạt bị cáo: Trần Văn S, 21 (hai mươi mốt) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 42 (bốn hai) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Văn S, cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
- Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 13 khối pháo có trọng lượng 20,381 kg (hai mươi phẩy ba trăm tám mươi mốt kilogam).
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S màu xanh đen.
(Chi tiết vật chứng có tại Lệnh nhập kho vật chứng ngày 08/01/2024 và Phiếu nhập kho vật chứng ngày 08/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và được lưu giữ tại kho vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An. Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An).
- Về án phí: Bị cáo Trần Văn S, phải chịu 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn ) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo, có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Trọng Sơn |
Bản án số 73/2024/HSST ngày 28/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 73/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn S buôn bán hàng cấm
