|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 73/2024/HNGĐ-ST Ngày: 03 - 10 - 2024 “V/v ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Võ Anh Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Kim Hoa và ông Trần Quốc Đấu
- Thư ký phiên tòa: Bà: Nguyễn Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông: Trần Văn Hội - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 206/2024/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 về việc “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 56/2024/QÐST- HNGĐ ngày 25 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh: Đào Hữu P – Sinh năm: 1995.
Nơi cư trú: thôn K, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Chị: Bùi Ngọc D – Sinh năm: 1998.
Nơi cư trú: xóm B, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Đào Hữu P trình bày: Anh và chị Bùi Ngọc D kết hôn với nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện, không ai ép buộc, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An ngày 10/4/2024. Nhưng thực tế anh chị chưa làm thủ tục đám cưới theo phong tục địa phương cũng như chưa sống chung với nhau ngày nào. Sau khi đăng ký kết hôn được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách không hợp nhau dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã và xúc phạm nhau. Mâu thuẫn trầm trọng. Nhận thấy giữa hai người có nhiều điểm không thể dung hòa được anh xét thấy không còn tình cảm với chị D nữa nên anh làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị D, để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn, tại phiên tòa hôm nay đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án chị Bùi Ngọc D trình bày: Chị thừa nhận về thời gian và điều kiện kết hôn như anh P đã trình bày. Sau khi đăng ký kết hôn được 2 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách không phù hợp nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn kéo dài và trầm trọng. Nay anh P làm đơn xin ly hôn, thì chị không đồng ý ly hôn vì chị đang còn tình cảm với anh P.
Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký Tòa án thực hiện các bước tố tụng đúng theo quy định của pháp luật. Thời hạn giải quyết đảm bảo theo quy định. Nguyên đơn, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51; 53; 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Về quan hệ tình cảm: Cho anh Đào Hữu P được ly hôn với chị Bùi Ngọc D; Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung; Về tài sản: không yêu cầu giải quyết nên miễn xét; Về án phí: Buộc nguyên đơn anh P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn anh Đào Hữu P làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn chị Bùi Ngọc D, sinh năm: 1998; Nơi cư trú: xóm B, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. HĐXX xác định đây là vụ án về Hôn nhân và Gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vinh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa mở lần thứ nhất vào ngày 25/9/2024 cả nguyên đơn, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng bị đơn chị Bùi Ngọc D vắng mặt, do đó HĐXX đã hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào 14 giờ 00 phút ngày 03/10/2024. Tuy nhiên, nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, HĐXX căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung: Anh Đào Hữu P và chị Bùi Ngọc D kết hôn với nhau trên cở sở tự nguyện, không ai ép buộc, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An ngày 10/4/2024. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh P, chị D là hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Xét quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh P, chị D thấy rằng: Sau khi kết hôn vợ chồng chưa làm thủ tục đám cưới cũng như chưa sống chung với nhau ngày nào, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách không phù hợp nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau đều đã được anh P, chị D thừa nhận. Chị D trình bày không đồng ý ly hôn vì đang còn tình cảm với anh P. Xét nguyện vọng của chị D là chính đáng, nên quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức nhiều phiên hòa giải để khuyên giải cho các bên về đoàn tụ nhưng chị D vắng mặt nhiều lần không có thiện chí hòa giải. Tại phiên họp, phiên hòa giải Tòa án đã khuyên giải anh P nhiều lần, nhưng anh P vẫn kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Như vậy, có thể khẳng định Hôn nhân giữa anh P, chị D lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho anh P được ly hôn với chị D như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với các quy định của pháp luật.
[3]. Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung.
[4]. Về tài sản: Anh P, chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[5]. Về án phí: Anh P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- [1]. Về quan hệ tình cảm: Cho anh Đào Hữu P được ly hôn với chị Bùi Ngọc D
- [2]. Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung.
- [3]. Về án phí: Buộc nguyên đơn anh Đào Hữu P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh P đã nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh theo biên lai số 0004541 ngày 05 tháng 6 năm 2024.
- [4]. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Võ Anh Sơn |
Bản án số 73/2024/HNGĐ-ST ngày 03/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn
- Số bản án: 73/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử cho anh P được ly hôn với chị D
