Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 73/2024/DS-ST

Ngày 25 tháng 9 năm 2024

V/V: "Kiện đòi tài sản"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Môn.
  2. Bà Hoàng Thị Hồng.

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 62/2024/TLST-DS ngày 26/4/2024 về “Kiện đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST-DS ngày 05/08/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2024/QĐST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 65/2024/QĐST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1957. Địa chỉ: Khu C, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Ông T có mặt)
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1961. Địa chỉ: Thôn N, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Bà B xin vắng mặt)
  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trịnh Thị Á, sinh năm 1959; Địa chỉ: Khu C, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Bà Á xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Thành T trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị B có mối quan hệ quen biết do cùng sinh sống tại xã S. Khoảng tháng 07/2013 bà B có đề nghị vay tiền của ông. Ngày 15/7/2013, Ông cho bà B vay số tiền 530.000.000 đồng (năm trăm ba mươi triệu đồng). Khi vay tiền, bà B có viết cho ông một giấy vay tiền viết tay. Bà B nói mục đích vay tiền là để đầu tư kinh doanh, hẹn ông đến ngày 29/7/2013 thì trả tiền. Trong giấy vay không thoả thuận gì về tiền lãi. Trong giấy vay còn ghi bà B thế chấp cho ông 2000m² đất khu nhà ở và xưởng may nhưng thực tế chỉ ghi trong giấy như vậy thôi chứ trên thực tế ông không quản lý bất kỳ nhà đất nào của bà B, không giữ giấy tờ nào liên quan đến nhà ở, nhà xưởng trên của bà B. Ông cũng không biết 2000m² đất khu nhà ở và xưởng may mà bà B ghi trong giấy vay đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa.

Ông đã giao đủ cho bà B số tiền 530.000.000 đồng (năm trăm ba mươi triệu đồng). Nguồn gốc số tiền này là tiền riêng của cá nhân ông, không liên quan gì đến tài sản chung của ông và vợ ông là Trịnh Thị Á. Kể từ khi vay tiền đến nay, bà B chưa trả ông được khoản tiền gốc, lãi nào. Ông đòi nhiều lần nhưng bà B không trả nên ông khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bà B phải trả số tiền 530.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 15/7/2013.

Bị đơn bà Nguyễn Thị B trình bày:

Bà có xưởng may mở tại nhà với hơn 50 công nhân, xưởng chuyên nhận hàng may gia công cho các đơn vị ở các nơi. Do chậm thanh toán tiền hàng nên bà phải vay ngoài để trả lương cho công nhân. Bà đã vay của ông T 1 số lần, cứ vay 10 đến 15 ngày lại trả cả gốc và lãi. Khi vay có lập giấy vay nhưng lãi suất thì thỏa thuận bên ngoài là 4.000đ/1 triệu/1 ngày. Bà còn 2 mã vay chưa trả ông T là: Ngày 15/9/2012, bà vay 130.000.000 đồng, lãi là 4.000đ/triệu/ngày. Ngày 21/9/2012, bà vay 120.000.000 đồng, lãi là 4.000đ/triệu/ngày. Tổng bà đã vay của ông T là 250.000.000 đồng, và bà đã trả ông T 117.000.000 đồng, cụ thể như sau:

  • Ngày 30/9/2012: trả 7.800.000 đồng.
  • Ngày 13/9/2012: trả 7.800.000 đồng.
  • Ngày 29/9/2012: trả 7.800.000 đồng.
  • Ngày 12/10/2012: trả 7.800.000 đồng.
  • Ngày 27/10/2012: trả 7.800.000 đồng.
  • Ngày 04/10/2012: trả 7.200.000 đồng.
  • Ngày 19/10/2012: trả 7.200.000 đồng.
  • Ngày 04/11/2012: trả 7.200.000 đồng.
  • Ngày 19/11/2012: trả 7.200.000 đồng.
  • Ngày 01/12/2012: trả 7.200.000 đồng.
  • Ngày 08/02/2013: trả 7.000.000 đồng.
  • Ngày 18/3/2013: trả 15.000.000 đồng.
  • Ngày 07/4/2013: trả 10.000.000 đồng.
  • Ngày 21/4/2013: trả 5.000.000 đồng.
  • Ngày 16/6/2013: trả 5.000.000 đồng.

Sau đó, do bà bà bị tai nạn xe máy bị vỡ đốt sống phải mổ bắt 6 ốc vít và 2 nẹp ở viện 108 Hà Nội phải điều trị dài ngày và bị vỡ nợ nên không trả được tiền cho ông T. Đến ngày 15/7/2013, ông T cầm nắm giấy vay ông đã tính lãi rồi cộng vào gốc, cứ 15 ngày một, rồi lại cộng lãi vào gốc để tính tiếp lên đến 530.000.000 đồng. Ông T ép bà ghi giấy vay 530.000.000 đồng, bảo nếu bà không ký và ghi giấy vay 530.000.000 đồng thì ông T sẽ phá xưởng và đuổi hết công nhân đi. Bà hoảng loạn sợ quá nên đã ghi giấy vay 530.000.000 đồng theo ý ông T. Sau khi có giấy vay nợ xong thì ông Trung liên T1 cho người vào đòi nợ bà. Đến nay, ông T kiện đòi bà 530.000.000 đồng thì bà không đồng ý, vì thực tế bà chỉ vay ông T hai lần, tổng cộng lại là: 250.000.000 đồng, và bà đã trả ông T tất cả là 117.000.000 đồng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị Á trình bày:

Bà nhất trí với ý kiến chồng bà là ông Nguyễn Thành T đã trình bày tại Toà án. Mọi ý kiến của ông T cũng là ý kiến của bà. Đối với số tiền 530.000.000 đồng (năm trăm ba mươi triệu đồng) mà ông T cho bà B vay, đây là tiền riêng của cá nhân ông T, không liên quan gì đến tài sản chung của vợ chồng bà, không liên quan gì đến gia đình bà. Do bận công việc nên bà đề nghị Toà án cho bà được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

  • Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
  • Tại phiên tòa ngày 21/08/2024, do bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án quyết định hoãn phiên tòa.
  • Ngày 22/8/2024, bị đơn bà B nộp bản phô tô các Giấy biên nhận vay tiền thể hiện nhiều lần vay tiền ông T.
  • Ngày 26/08/2024, Tòa án đã chuyển toàn bộ các Giấy biên nhận vay tiền mà bà B nộp đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố B để xem xét hành vi của ông Nguyễn Thành T có dấu hiệu của tội phạm hình sự.
  • Tại phiên tòa ngày 09/09/2024, do phải chờ kết quả giải quyết của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố B đối với Công văn số 938/TA ngày 26/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang nên Hội đồng xét xử đã tạm ngừng phiên tòa.
  • Ngày 19/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố B có văn bản trả lời với nội dung như sau: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B nhận được Công văn số 938/TA đề ngày 26 tháng 8 năm 2024 kèm theo các tài liệu có liên quan của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang về việc đề nghị Công an thành phố B xem xét hành vi của ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1957, địa chỉ: Khu C, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang có dấu hiệu của tội phạm “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Qua nghiên cứu tài liệu của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thấy: Trong khoảng thời gian từ ngày 24/07/2009 đến ngày 15/7/2013, bà B viết nhiều giấy vay tiền và giấy biên nhận vay tiền để vay tiên của ông T. Trong các giấy vay tiền và giấy biên nhận vay tiền đều không thể hiện nội dung thỏa thuận về tiền lãi. Đối với các tài liệu bà B giao nộp cho Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, có một số tài liệu ghi tiền lãi ông T cho bà B vay là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày hoặc 5.400 đồng/1 triệu/1 ngày. Quan điểm của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B như sau: Thứ nhất: Căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 27 Bộ luật hình sự xác định nội dung bà B cung cấp tài liệu và trình bày ông T có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Thứ hai: Tại thời điểm bà B vay tiền của ông T với mức lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày hoặc 5.400 đồng/1 triệu/1 ngày. Căn cứ Điều 163 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 thì hành vi của ông T không cấu thành tội “Cho vay lãi nặng”.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • Bị đơn bà Nguyễn Thị B, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị Á xin vắng mặt.
  • Nguyên đơn ông Nguyễn Thành T trình bày: Tại Bản tự khai nộp Toà án ngày 25/9/2024, bà B thừa nhận đã vay ông tổng số tiền gốc 250.000.000 đồng nên ông xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà B trả số tiền gốc 250.000.000 đồng. Ông chỉ thừa nhận khoản tiền gốc 250.000.000 đồng, ông không xác nhận ngày vay là ngày 15/09/2012 và ngày ngày 21/9/2012 như bà B khai vì khoảng năm 2012-2013 ông cho bà B vay nhiều lần, ông không thể nhớ hết khoản vay. Đối với ý kiến của bà B về việc bà B đã trả ông tổng cả gốc và lãi 117.000.000 đồng, ông không đồng ý với trình bày của bà B, không đồng ý đối trừ số tiền 117.000.000 đồng vào khoản tiền gốc 250.000.000 đồng ông khởi kiện bà B vì bà B cũng không xuất trình được đầy đủ giấy tờ chứng minh đã trả 117.000.000 đồng.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến:

    - Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

    - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà B phải trả số tiền 250.000.000 đồng. Bà B được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

    - Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn bà Nguyễn Thị B, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị Á đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt bà B, bà Á là đảm bảo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2]. Về việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn ông T yêu cầu bị đơn bà B trả số tiền 530.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 15/7/2013. Tại phiên toà, nguyên đơn ông T thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà B phải trả số tiền gốc 250.000.000 đồng. Căn cứ Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của ông T không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên cần chấp nhận.

[3]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông T khởi kiện yêu cầu bị đơn bà B phải trả số tiền gốc 250.000.000 đồng nên cần xác định quan hệ pháp luật là “Kiện đòi tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 169 Bộ luật Dân sự năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2011. Các đương sự đều cư trú trên địa bàn thành phố B nên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ lời khai của các đương sự và các tài liệu do Toà án thu thập được có đủ cơ sở xác định: Khoảng năm 2012-2013, ông T có cho bà B vay tiền nhiều lần. Bà B xác nhận có khoản vay ông T 250.000.000 đồng là chưa thanh toán hết nhưng đã trả được 117.000.00 đồng. Tuy nhiên, ngoài lời trình bày tại bản tự khai, bà B không xuất trình được đầy đủ tài liệu chứng cứ về việc đã trả 117.000.00 đồng. Đối với 03 bên nhận gốc do bà B nộp thể hiện: ngày 07/4/2013 bà B trả ông T 10.000.000 đồng, ngày 04/10/2012 bà B trả ông T 7.200.000 đồng, ngày 18/3/2013 bà B trả ông T 15.000.000 đồng đều không thể hiện số tiền bà B trả ông T là trả tiền gốc hay trả tiền lãi, là trả cho khoản vay nào vì giữa bà B và ông T có nhiều khoản vay. Ông T không thừa nhận việc bà B đã trả 117.000.00 đồng, không đồng ý đối trừ các khoản tiền bà B đã trả tại 3 biên nhận gốc đã nộp vào khoản vay 250.000.000 đồng mà ông khởi kiện. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 169 Bộ luật dân sự năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2011, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, buộc bà B phải trả cho ông T số tiền 250.000.000 đồng.

[4] Về ý kiến của bà B về việc ông T cho bà vay lãi cao: Ngày 26/08/2024, Tòa án đã chuyển toàn bộ các Giấy biên nhận vay tiền mà bà B nộp đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố B để xem xét hành vi của ông Nguyễn Thành T có dấu hiệu của tội phạm hình sự. Ngày 19/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố B có văn bản trả lời với nội dung: Căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 27 Bộ luật hình sự xác định nội dung bà B cung cấp tài liệu và trình bày ông T có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Tại thời điểm bà B vay tiền của ông T với mức lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày hoặc 5.400 đồng/1 triệu/1 ngày. Căn cứ Điều 163 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 thì hành vi của ông T không cấu thành tội “Cho vay lãi nặng”.

[5] Về án phí: Yêu cầu của ông T đối với số tiền 250.000.000 đồng được chấp nhận nên bị đơn bà B phải chịu án phí theo dân sự sơ thẩm nhưng do bị đơn là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 169 Bộ luật dân sự năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2011;

Căn cứ khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành T, buộc bà Nguyễn Thị B trả số tiền 250.000.000 đồng.
  2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
  3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị B được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Bắc Giang;
  • - CCTHADS TP. Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 73/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành T - Nguyễn Thị B kiện đòi tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger