|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 73/2024/DS-ST
Ngày: 25 – 9 – 2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đăng Thường
- Bà Nguyễn Thị Thu Phương
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hường – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số 112/2024/TLST- DS ngày 24/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXX - DS ngày 21/8/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 20/2024/QĐST-HPT ngày 09/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Văn S, sinh năm 1965 (Có mặt).
Địa chỉ: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông S:
Ông Đỗ Thanh T, sinh năm 1971 (Có mặt).
Địa chỉ: Khu phố C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1985 (Vắng mặt không có lý do).
Địa chỉ: Tổ A, Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Võ Văn S là ông Đỗ Thanh T trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết nên ngày 23/12/2014, ông Võ Văn S cho vợ chồng ông Nguyễn Đức T1 và bà Nguyễn Thị T2 vay số tiền 100.000.000đ, mục đích vay tiền để đáo hạn ngân hàng, không thoả thuận lãi suất; hai bên có làm Giấy mượn tiền, ông T1, bà T2 có ký tên và điểm chỉ để xác nhận khoản vay. Hai bên hẹn đến hết ngày 08/01/2015, vợ chồng ông T1, bà T2 sẽ có trách nhiệm trả cho ông S toàn bộ số tiền đã vay. Tuy nhiên, đến hạn nhưng vợ chồng ông T1 không thực hiện theo đúng thoả thuận, ông S đã nhiều lần liên hệ để yêu cầu vợ chồng ông T1 trả tiền nhưng vợ chồng ông T1 lấy lý do chưa đáo hạn ngân hàng được nên chưa có tiền trả, đến thời điểm này thì vợ chồng ông T1 nói không còn khả năng trả nợ.
Nay ông S khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Đức T1, bà Nguyễn Thị T2 có trách nhiệm trả cho ông S tổng số tiền 196.258.000đ trong đó tiền nợ gốc là 100.000.000đ, tiền lãi tính từ ngày 08/01/2015 cho đến ngày xét xử sơ thẩm (25/9/2024) tương ứng số tiền 96.258.000đ; đồng thời yêu cầu vợ chồng ông T1, bà T2 có trách nhiệm trả khoản tiền lãi tính từ ngày cho đến khi vợ chồng ông T1 thanh toán xong khoản nợ.
* Đối với bị đơn ông Nguyễn Đức T1, bà Nguyễn Thị T2: Sau khi Tòa án thụ lý đơn khởi kiện đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà nhưng ông T1, bà T2 không có ý kiến, cũng không đến Tòa án theo giấy triệu tập của Tòa án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông T1 và bà T2.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn S; buộc ông Nguyễn Đức T1, bà Nguyễn Thị T2 có trách nhiệm trả cho ông S tiền nợ gốc là 100.000.000đ, tiền lãi tính từ ngày 08/01/2015 đến ngày xét xử sơ thẩm 25/9/2024 với mức lãi suất 10%/năm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Ông Võ Văn S khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Đức T1, bà Nguyễn Thị T2 có trách nhiệm trả cho ông S số tiền đã vay và tiền lãi theo quy định, ông T1 và bà T2 có nơi cư trú tại xã T, huyện Đ. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là Tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đồng Phú theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn Nguyễn Đức T1, bà Nguyễn Thị T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do chính đáng. Do đó, căn cứ căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiếp tục đưa vụ án ra xét xử.
[2] Về nội dung vụ án:
- Đối với yêu cầu trả tiền gốc:
Căn cứ vào Giấy mượn tiền do ông Võ Văn S giao nộp thể hiện: Ngày 23/12/2014, ông Nguyễn Đức T1, bà Nguyễn Thị T2 có vay của ông S số tiền 100.000.000đ, 2 bên thoả thuận đến ngày 08/01/2015, vợ chồng ông T1 sẽ trả cho ông S toàn bộ số tiền đã vay, 2 bên không thoả thuận lãi suất. Do vợ chồng ông T1, bà T2 vi phạm thoả thuận về việc trả nợ nên ông S khởi kiện yêu cầu ông T1, bà T2 có trách nhiệm trả cho ông B số tiền đã vay là 100.000.000₫.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Toà án nhưng ông T1, bà T2 vẫn cố tình vắng mặt, không chấp hành theo Giấy triệu tập của Toà án cũng không có văn bản nêu ý kiến phản đối gửi đến Toà án theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp làm cơ sở giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 92, Điều 93 và Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Do ông T1, bà T2 vi phạm thoả thuận về thời hạn trả nợ nên ông S khởi kiện yêu cầu ông T1, bà T2 có trách nhiệm trả cho ông S số tiền 100.000.000₫ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Đối với yêu cầu trả tiền lãi:
Theo Giấy mượn tiền ngày 23/12/2014, các bên không thoả thuận lãi suất.
Theo khoản 4 Điều 466 của Bộ luật dân sự quy định: “
4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”.
Do đó, nguyên đơn yêu cầu vợ chồng ông T1 có nghĩa vụ trả tiền lãi tính từ ngày 08/01/2015 đến ngày xét xử sơ thẩm 25/9/2024 với mức lãi suất 10% tương ứng với số tiền 96.258.000đ là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tổng số tiền ông T1, bà T2 có trách nhiệm trả cho ông S là 100.000.000₫ + 96.258.000₫ = 196.258.000đ.
[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn S được Hội đồng xét xử chấp nhận nên ông T1, bà T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với số tiền 196.258.000đ x 5% = 9.813.000đ (đã làm tròn)
[4] Về ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q:
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn S.
- Buộc ông Nguyễn Đức T1 và bà Nguyễn Thị T2 có trách nhiệm trả cho ông Võ Văn S tổng số tiền 196.258.000đ (Một trăm chín mươi sáu triệu hai trăm năm mươi tám nghìn đồng) trong đó tiền gốc là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) và tiền lãi 96.258.000đ (Chín mươi sáu triệu hai trăm năm mươi tám nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: Ông Nguyễn Đức T1, bà Nguyễn Thị T2 phải chịu 9.813.000đ (Chín triệu tám trăm mười ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú trả lại cho ông Võ Văn S 4.140.000₫ (Bốn triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010307 ngày 23/5/2024.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký, đóng dấu) Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 73/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 73/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Võ Văn S khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Đức T phải trả lại số tiền đã vay
