|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 73/2024/HNGĐ-ST
Ngày 23-9-2024
Tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
| - Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: | Ông Lê Văn Trung |
| - Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Phạm Hiệp |
| Ông Nguyễn Viết Xứng |
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Quỳnh Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 279/2024/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/9/2024, giữa:
- * Nguyên đơn: Chị Trần Ngọc A, sinh năm 1995
- * Bị đơn: Anh Trần Ngọc L, sinh năm 1998
Cùng địa chỉ: ấp Cầu Hai, xã Đồng Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Ngọc A trình bày:
Quan hệ hôn nhân: Chị Trần Ngọc A và anh Trần Ngọc L chung sống với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước vào năm 2019. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Chị Trần Ngọc A và anh Trần Ngọc L đang sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay. Nay, chị Trần Ngọc A xác định tình cảm vợ chồng đã hết, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, thời gian sống ly thân đã lâu nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Trần Ngọc L.
Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Có 02 con chung là cháu Trần Ngọc Thiên A, sinh năm 2020 và cháu Trần Ngọc Thiên K, sinh năm 2021. Khi ly hôn, chị Trần Ngọc A có yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Trần Ngọc Thiên K; đồng ý giao cháu Trần Ngọc Thiên A cho anh Trần Ngọc L nuôi dưỡng. Do vợ chồng mỗi người nuôi một con nên chị Trần Ngọc A không yêu cầu anh Trần Ngọc L cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Ngọc A và anh Trần Ngọc L tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Ngọc L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Ngọc L và chị Trần Ngọc A chung sống với nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước vào năm 2019.
Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Từ đầu năm 2023 cho đến nay, anh Trần Ngọc L và chị Trần Ngọc A sống ly thân. Nay, anh Trần Ngọc L xác định tình cảm vợ chồng đã hết nên đồng ý thuận tình ly hôn với chị Trần Ngọc A.
Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Trong thời gian chung sống, vợ chồng sinh được 02 con chung là cháu Trần Ngọc Thiên A, sinh năm 2020 và cháu Trần Ngọc Thiên K, sinh năm 2021. Khi ly hôn, anh Trần Ngọc L có yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Trần Ngọc Thiên A; đồng ý giao cháu Trần Ngọc Thiên K cho chị Trần Ngọc A nuôi dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Trần Ngọc L và chị Trần Ngọc A tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Đại diện VKSND huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước phát biểu quan điểm tại phiên tòa:
- - Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và các đương sự đã tuân thủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Ngọc A, xử cho chị Trần Ngọc A và anh Trần Ngọc L được ly hôn. Giao con chung là cháu Trần Ngọc Thiên K, sinh năm 2021 cho chị Trần Ngọc A và giao cháu cháu Trần Ngọc Thiên A, sinh năm 2020 cho anh Trần Ngọc L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Không xem xét giải quyết về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung do các đương sự không yêu cầu.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của các bên đương sự, kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Ngọc A và anh Trần Ngọc L chung sống với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn UBND xã Đồng Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước (số đăng ký kết hôn 68, ngày 11/11/2019). Xét đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Trong quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân nhau cho đến nay. Hiện nay, chị Trần Ngọc A và anh Trần Ngọc L sống ly thân, quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Ngọc A và anh Trần Ngọc L đều thể hiện nguyện vọng được thuận tình ly hôn. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Trần Ngọc A và anh Trần Ngọc L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên cần áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 tuyên xử cho chị Trần Ngọc A được ly hôn với anh Trần Ngọc L là phù hợp.
[2] Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng chị Trần Ngọc A và anh Trần Ngọc L sinh được 02 con chung là cháu Trần Ngọc Thiên A, sinh năm 2020 và cháu Trần Ngọc Thiên K, sinh năm 2021. Khi ly hôn, anh Trần Ngọc L và chị Trần Ngọc A thể hiện nguyện vọng giao cho chị Trần Ngọc A nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Trần Ngọc Thiên K; giao cho anh Trần Ngọc L nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Trần Ngọc Thiên A. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, phù hợp với điều kiện của mỗi bên. Do vậy, cần áp dụng khoản 3 Điều 81, các điều 82, 83 Luật hôn nhân gia đình giao cho chị Trần Ngọc A nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Trần Ngọc Thiên K; giao cho anh Trần Ngọc L nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Trần Ngọc Thiên A là phù hợp.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Ngọc A và anh Trần Ngọc L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận; chị Trần Ngọc A, anh Trần Ngọc L có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Tòa án xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[5] Án phí hôn nhân sơ thẩm: Các bên đương sự phải nộp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật TTDS và Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147; Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho chị Trần Ngọc A được ly hôn với anh Trần Ngọc L.
2. Giải quyết về con chung: Giao cho chị Trần Ngọc A được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Trần Ngọc Thiên K; giao cho anh Trần Ngọc L được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Trần Ngọc Thiên A cho đến khi các cháu trưởng thành.
Sau khi ly hôn, chị Trần Ngọc A, anh Trần Ngọc L cùng các thành viên trong gia đình phải tạo điều kiện tốt nhất cho nhau được qua lại thăm nom, chăm sóc con theo quy định của pháp luật.
Người không trực tiếp nuôi con, lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó; cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và các vấn đề khác: Không xem xét giải quyết do các bên đương sự không có yêu cầu.
4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Trần Ngọc A phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010479 ngày 22/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
5. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Trung |
4
Bản án số 73/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 73/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Ngọc A và anh Trần Ngọc L tranh chấp ly hôn và con chung
