Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÌN HỒ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 73/2024/HSST

Ngày: 20/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu; Ông Giàng A Páo.

Thư ký phiên toà: Ông Chảo Hò Sơn, Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Phùng Văn Chử, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2024/TLST- HS, ngày 30 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST –HS, ngày 06 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Chẻo M- Sinh năm: 1979; sinh tại: S, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: bản Tả Sử Trồ, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Chẻo K – Sinh năm: 1957; Con bà: Tẩn Mý L – (đã chết); Bị cáo có chồng: Tẩn A C- sinh năm: 1978; bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2001. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/8/2024 đến nay – Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Mạnh H, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L – Có mặt.

* Bị hại: Công ty cổ phần Đ.

Người đại diện theo pháp luật là Ông Từ Quang H1 - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Đ. Địa chỉ: số nhà F, tổ dân phố D, phường T, Thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.

Đại điện theo ủy quyền: Ông Đặng Văn G – Sinh năm 1987; Đại chỉ: bản Nậm Lò, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu (hiện nay trú tại: khu phố C, thị trấn S, huyện S, tỉnh Điện Biên) – Vắng mặt.

* Người làm chứng:

Ông: Nguyễn Hồng S – Sinh năm: 1985; Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu – Vắng mặt.

Ông: Bế Anh T – Sinh năm: 1988; Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01/5/2024, Công ty cổ phần Đ, có trụ sở tại số nhà F, tổ dân phố D, phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, do ông Từ Quang H1 là Chủ tịch Hội đồng quản trị ký hợp đồng thuê 9.758m² đất nông nghiệp tại khu phố C, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu của gia đình chị Tẩn Lù M, sinh năm 1986; trú tại bản T, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu với giá 3.000 đồng/m², thời hạn thuê là 10 năm để trồng hoa màu. Sau khi cải tạo đất tháng 4/2024 Công ty T3 và giao cho ông Đặng Văn G; trú tại bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu (hiện nay trú tại khu phố C, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu) quản lý, chăm bón. Khoảng 15 giờ ngày 24/5/2024, Chẻo Mý K đến thị trấn S, huyện S để làm ruộng, khi đi qua khu đất này thấy trồng cây Cà chua, đang sinh trưởng tốt. K cho rằng khu đất này trước đây tranh chấp với Tẩn Lù Mẩy, nên K đã vào vườn, dùng tay nhổ 1943 cây Cà chua trên diện tích đất 323,8 m². Lúc này anh Bế Văn T1 và anh Nguyễn Hồng S là nhân viên Công ty cổ phần Đ đang lao động tại khu đất này nhìn thấy, chạy đến yêu cầu Chẻo M1 Khé dừng việc phá nhổ cây Cà chua, thì Chẻo M1 K mới dừng lại và đi về nhà. Đến ngày 20/6/2024 ông Đặng Văn G gửi đơn tố giác đến cơ quan Công an huyện S, tỉnh Lai Châu, Cơ quan Công an đã triệu tập Chẻo M1 Khé đến làm việc, Chẻo Mý K đã thừa nhận đã nhổ cây Cà chua tại khu đất nói trên. Qua khám nghiệm hiện trường xác định: mật độ trồng là 12 cây/m², số cây Cà chua bị nhổ là 06 luống, mỗi luống bị nhổ một phần trên diện tích 323 m²/1943 cây.

Qua xác định giá tài sản, tại bản kết luận định giá tài sản số: 09/KL-HĐĐGTS, ngày 10/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện S đã kết luận 1943 cây Cà chua có giá trị là 6.878.000 đồng (sáu triệu tám trăm bẩy mươi tám nghìn đồng).

Cáo trạng số: 57/CT- VKS, ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo C1 Mý Khé về tội “Hủy hoại tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Chẻo M1 Khé phạm tội “Hủy hoại tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 36; điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 178 BLHS. Xử phạt bị cáo Chẻo M1 Khé từ 08 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ trừ đi thời gian tạm giữ cho bị cáo. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục. Bị cáo là lao động tự do, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng khoản 3 Điều 36 BLHS đối với bị cáo. Áp dụng khoản 4 Điều 36 BLHS, trong thời gian chấp

hành hình phạt thì bị cáo phải chấp hành một số công việc lao động tại cộng đồng.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 178 BLHS cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: không. Về án phí hình sự sơ thẩm, đề nghị xem xét miễn án phí cho bị cáo theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Chẻo Mý K, trình bày luận cứ bào chữa, người bào chữa nhất trí với luận tội và đề nghị của kiểm sát viên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 178; Điều 36 BLHS và các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Chẻo M1 Khé hình phạt cải tạo không giam giữ, miễn hình phạt bổ sung, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo; đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Chẻo Mý K.

Tại phiên tòa, bị cáo Chẻo Mý K khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp các tài liệu trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhất trí ý kiến bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến bổ sung thêm; Bị cáo nhất trí luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện S, tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố, trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[ 2 ] Về hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Do có tranh chấp đất với Tẩn Lù Mẩy từ trước, vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 24/5/2024 khi đi qua cánh đồng thuộc khu phố C, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu, nhìn thấy cây Cà chua nên xanh tốt, Chẻo M1 khé cho rằng đây là Cà chua nhà Tẩn Lù M, nên Chẻo Mý K đã có hành vi hủy hoại (dùng tay nhổ) 1943 cây Cà chua trên diện tích 323,8 m² của Công ty cổ phần Đ có giá trị là 6.878.000 đồng. Như vậy, hành vi của Chẻo Mý K đã phạm vào tội “Hủy hoại tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS. Do vậy, Cáo trạng số: 57/CT – VKS, ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ truy tố đối với Chẻo Mý K về

tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[ 3 ] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhận thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ việc hủy hoại tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do bực tức với T2 Lù Mẩy, nên khi bị cáo đã thực hiện hành vi phá nhổ tài sản của người khác, bị cáo thực hiện là cố ý. Hành vi của bị cáo đã xây phạm vào quyền tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ. Do vậy, cần phải có mức hình phạt để dăn đe, giáo dục đối với bị cáo. Tuy nhiên, khi xem xét mức hình phạt cần phải xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo chưa có tiền án, về tiền sự. Ngày 25/11/2020, bị cáo bị Công an huyện S, tỉnh Lai Châu xử phạt hành chính, bằng hình thức cảnh cáo về hành vi vi phạm trật tự công cộng theo quyết định số: 53/QĐ-XLVPHC ngày 25/11/2020, tính đến ngày thực hiện hành vi hủy hoại tài sản bị cáo được coi là chưa bị xử phạt hành chính.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã chủ động cùng với gia đình thỏa thuận và bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 6.000.000 theo biên bản thỏa thuận và giao tiền ngày 21/8/2024; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không được đi học, nhận thức pháp luật còn có hạn chế nhất định, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo.

Căn cứ vào tích chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 BLHS, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội tự cải tạo, sửa chữa để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

[ 4 ] Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa. Xét thấy, bị cáo có nghề nghiệp là lao động tự do, thu nhập không ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS đối với bị cáo và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo theo quy định tại tại khoản 3 Điều 36 BLHS.

[ 5 ] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là Công ty cổ phần Đ – Người đại diện theo ủy quyền là ông Đặng Văn G có đơn xin xét xử vắng mặt, trong quá trình điều tra đã nhận được số tiền bồi

thường 6.000.000 đồng của bị cáo và gia đình bị cáo, không có yêu cầu gì thêm, Hội đồng xét xử không xem xét.

[ 6 ] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn 200.000 đồng án phí hình sơ thẩm cho bị cáo.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên và ý kiến của người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

Áp dụng Điều 36; Điều 50; điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 178 BLHS và khoản 3 Điều 328; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Chẻo M1 Khé phạm tội “Hủy hoại tài sản”. Xử phạt bị cáo Chẻo M1 Khé 08 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo Chẻo Mý K bị tạm giam từ ngày 13/8/2024 đến ngày 20/9/2024 là 01 tháng 09 ngày, được quy đổi bằng 03 tháng 27 ngày cải tạo không giam giữ (01 ngày tạm giam = 03 ngày cải tạo không giam giữ). Bị cáo còn phải thi hành tiếp 04 tháng 03 ngày cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện S, tỉnh Lai Châu nhận được Quyết định Thi hành án. Giao bị cáo Chẻo M1 Khé cho UBND xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục.

Hội đồng xét xử trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa cho bị cáo Chẻo Mý K, nếu bị cáo Chẻo M1 Khé không bị tạm giữ, tạm giam về tội phạm khác.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Án xử công khai, có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại; bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhân được bản án hoặc ngày niêm yết bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Công an huyện Sìn Hồ;
  • - VKSND huyện Sìn Hồ;
  • - Thi hành án hình sự CA huyện Sìn Hồ;
  • - Thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ;
  • - Bị cáo; Người bào chữa; Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HSST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm (tội hủy hoại tài sản)

  • Số bản án: 73/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Hủy hoại tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 15 giờ ngày 24/5/2024 Chẻo Mý Kh có hành vi huy hoại 1943 cây cà chua của Công ty cổ phần thương mại Điện Biên có giá trị 6.787.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger