Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGHI LỘC

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HS-ST

Ngày: 20-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Dũng và bà Lê Thị Hồng.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Đinh Xuân Giáp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Anh Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 16 tháng 8 năm 1993, tại huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm C xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hồng H1, sinh năm 1958 và bà Hà Thị T, sinh năm 1962; vợ: Mai Thị H2, sinh năm 1993, con: 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Quyết định số 14/2019/QĐ-TA ngày 19/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 24 tháng. Đã chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2024 cho đến nay, tại nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 28/5/2024, Lê Văn H mang theo một số nụ hoa cây cần sa đi xe khách từ Thái Lan về Việt Nam. Khi đi đến nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, H gặp một người đàn ông người Lào không quen biết và mua của người này số ma túy là 06 viên nén màu hồng được gói trong một túi nilon với giá 100 Kip Lào. Đến khoảng 21 giờ 00 phút ngày 29/5/2024, H đi về đến phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An và bắt T1 đi xuống thị xã C, tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày 29/5/2024, H xuống xe đi vào quán cà phê Phương T2 thuộc xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An ngồi uống nước thì bị Tổ công tác của Đồn Biên phòng Cửa khẩu C - B, thuộc Bộ đội Biên phòng tỉnh N kiểm tra, phát hiện, thu giữ của H: 01 (một) gói nilon màu trắng chứa thực vật khô màu xanh (nghi là cây cần sa), 01 (một) gói nilon màu vàng chứa 06 (sáu) viên nén màu hồng (nghi là ma túy) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy Note20 5G màu xám, đã qua sử dụng. Sau đó, Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và đưa Lê Văn H về trụ sở Đồn Biên phòng Cửa khẩu C - B để làm việc. Quá trình làm việc, Lê Văn H khai nhận mục đích tàng trữ số ma túy trên là để sử dụng dần.

Ngày 30/5/2024, Đồn Biên phòng Cửa khẩu C - B đã tiến hành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định đối với số vật chứng thu giữ của Lê Văn H, xác định: Toàn bộ 06 (sáu) viên nén màu hồng có khối lượng là 0,535 gam (Không phẩy, năm trăm ba mươi lăm gam) và lấy 02 (hai) viên nén màu hồng có khối lượng là 0,350 gam (Không phẩy, ba trăm năm mươi gam) gửi đi giám định (ký hiệu M1), còn lại 04 (bốn) viên nén màu hồng có khối lượng 0,350 gam; Toàn bộ số thực vật khô, màu xanh có khối lượng là 5,480 gam (Năm phẩy, bốn trăm tám mươi gam), đã lấy 1,330 gam (Một phẩy, ba trăm ba mươi gam) gửi đi giám định (ký hiệu M2), còn lại 4,150 gam). Sau khi hoàn tất thủ tục trưng cầu giám định ma túy, Đồn Biên phòng Cửa khẩu C - B đã chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Nghệ An để điều tra theo thẩm quyền.

Tại Kết luận giám định số 857/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 03/6/2024 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M1) thu giữ của Lê Văn H gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng (06 viên) thu giữ của Lê Văn H có khối lượng là 0,535g (Không phẩy năm trăm ba mươi lăm gam). Mẫu thực vật khô, màu xanh (ký hiệu M2) thu giữ của Lê Văn H gửi giám định là ma túy, loại Cần sa. Số thực vật khô, màu xanh thu giữ của Lê Văn H có khối lượng là 5,480g (Năm phẩy, bốn trăm tám mươi gam)”.

Kết quả điều tra xác định tổng khối lượng chất ma túy Lê Văn H phải chịu trách nhiệm hình sự như sau:

- Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Methamphetamine so với mức tối thiểu đối với Methamphetamine quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự là 535% (0,535 gam so với 0,1 gam), so với mức tối thiểu đối với Methamphetamine quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 249 Bộ luật Hình sự là 10,7% (0,535 gam so với 05 gam).

2

- Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của chất ma túy (cần sa) so với mức tối thiểu đối với chất ma túy (cần sa) quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự là 0,548% (5,480 gam so với 1000 gam), so với mức tối thiểu đối với chất ma túy (cần sa) quy định tại điểm h, khoản 2, Điều 249 Bộ luật Hình sự là 0,0548% (5,480 gam so với 10.000 gam).

Như vậy, tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của cả hai chất ma túy là: 535% + 0,548% = 535,548% (thuộc trường hợp từ 100% trở lên so với khối lượng quy định tại khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự); 10,7% + 0,0548% = 10,7548% (thuộc trường hợp dưới 100% so với khối lượng quy định tại khoản 2, Điều 249 Bộ luật Hình sự).

Căn cứ vào Điều 5, Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự xác định: Lê Văn H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" được quy định tại điểm i, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Vật chứng và tài sản liên quan đến vụ án:

  • - 02 (hai) phong bì thư do Công an huyện N phát hành dùng để niêm phong vật chứng còn lại (04 (bốn) viên nén màu hồng có khối lượng 0,350 gam và số thực vật khô, màu xanh có khối lượng 4,150 gam - sau khi trích mẫu đi giám định), được dán kín các mép, bên ngoài có ghi: “Vật chứng thu giữ của Lê Văn H” - hiện được bảo quản tại Kho vật chứng tại Chi cục THADS huyện N, tỉnh Nghệ An chờ xử lý.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy Note20 5G, màu xám, có số IMEI 1: 351558963638780, số IMEI 2: (eSim): 352618333638784 đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 (một) sim điện thoại có số thuê bao 0394.015.137. Quá trình điều tra xác định, điện thoại thuộc sở hữu của Lê Văn H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã giao cho chị Mai Thị H2 (sinh năm 1993, trú tại xóm D, xã D, huyện D, là vợ của H) quản lý.

Bản Cáo trạng số 78/CT-VKS-NL ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Lê Văn H về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Lê Văn H mức án từ 17 đến 20 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam : 30/5/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

3

  • - Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy Methamphetamine và Cần sa còn lại sau giám định và vỏ bao bì chứa các vật chứng trên;
  • Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí về tội danh, khung hình phạt, không có tranh luận gì và có lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ân hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt đến mức thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Đồn Biên phòng Cửa khẩu C - B, Bộ đội Biên phòng tỉnh N, Cơ quan Cảnh sát điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên Tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội, tội danh và khung hình phạt:

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Kết luận điều tra và nội dung bản Cáo trạng truy tố, ý kiến luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp có tại hồ sơ vụ án, đã được xem xét và thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 29/5/2024, tại quán C1 thuộc xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Lê Văn H đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,535g (Không phẩy, năm trăm ba mươi lăm gam) chất ma túy loại Methamphetamine và 5,480g (Năm phẩy, bốn trăm tám mươi gam) chất ma túy loại Cần sa nhằm mục đích để sử dụng thì bị Đồn Biên phòng Cửa khẩu C - B, Bộ đội Biên phòng tỉnh N phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng là số ma túy nêu trên, sau đó đã chuyển giao vụ án cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Nghệ An để điều tra theo thẩm quyền.

Do có 02 chất ma túy, trong đó có 01 chất ma túy là loại Cần sa có khối lượng dưới mức tối thiểu đối với chất đó theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên áp dụng phương pháp tính tổng khối lượng chất ma túy theo hướng dẫn tại Điều 5, Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì Lê Văn H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, hành vi tàng trữ 0,535g (Không phẩy, năm trăm ba mươi lăm gam) chất ma túy loại Methamphetamine và 5,480g (Năm phẩy, bốn trăm tám mươi gam) chất ma túy loại Cần sa của Lê Văn H nhằm mục đích sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội

4

“Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  1. Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội:

Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý đối với các loại chất ma túy. Tệ nạn sử dụng trái phép chất ma túy gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an trong xã hội, làm cho quần chúng nhân dân hoang mang, lo lắng và là tác nhân của nhiều loại tệ nạn, tội phạm khác. Lê Văn H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy của mình là trái pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, vì vậy cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung là thật sự cần thiết.

  1. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng phải chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, tuy đã chấp hành xong nhưng không lấy đó làm bài học để tu sửa bản thân mà tiếp tục có hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn H đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

  1. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  2. Trong vụ án này, còn có người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo (theo lời khai của bị cáo), kết quả điều tra không xác định được đối tượng nên không có căn cứ xử lý nên không xem xét.
  3. Về xử lý vật chứng:
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy Note20 5G, màu xám, có số IMEI 1: 351558963638780, số IMEI 2: (eSim): 352618333638784 đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 (một) sim điện thoại có số thuê bao 0394.015.137. Quá trình điều tra xác định, điện thoại thuộc sở hữu của bị cáo Lê Văn H, không liên quan đến hành vi phạm tàng trữ ma túy của bị cáo nên Cơ quan điều tra đã giao lại cho chị Mai Thị H2 (sinh năm 1993, trú tại xóm D, xã D, huyện D, là vợ của H) quản lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Đối với số ma túy còn lại và 02 (hai) phong bì thư do Công an huyện N phát hành dùng để niêm phong vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ, sử dụng và vỏ bao bì đựng số ma túy nêu trên không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  1. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

5

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H 19 (mười chín) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam: 30/5/2024

- Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư bưu điện, mặt trước có ký hiệu M1. Mặt sau được dán kín, trên các mép dán có chữ ký của những người tham gia niêm phong, chữ ký của đối tượng liên quan và đóng dấu giáp lai của Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng C - B, Bộ đội Biên phòng tỉnh N và 01 phong bì thư bưu điện, mặt trước có ký hiệu M2. Mặt sau được dán kín, trên các mép dán có chữ ký của những người tham gia niêm phong, chữ ký của đối tượng liên quan và đóng dấu giáp lai của Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng C - B, Bộ đội Biên phòng tỉnh N.

Các vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện NChi cục THADS huyện N, lập vào ngày 06/9/2024.

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Nghi Lộc;
  • - Công an huyện;
  • - THA dân sự, THA hình sự;
  • - Lưu hồ sơ./.

T.M/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hồng Vân

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hiển có hành vi tàng trữ trái phép 0,535g (Không phẩy, năm trăm ba mươi lăm gam) chất ma túy loại Methamphetamine và 5,480g (Năm phẩy, bốn trăm tám mươi gam) chất ma túy loại Cần sa nhằm mục đích để sử dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger