TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 73/2024/DS-ST
Ngày: 09 - 9 - 2024
V/v yêu cầu chấm dứt hành vi
cản trở quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Tâm, ông Nguyễn Thanh Trang.
Thư ký phiên toà: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Thoa, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 239/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 11 năm 2023 về việc “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 144/2024/QĐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phan Quang S, sinh năm 1957 và bà Trương Thị X, sinh năm 1957, cùng cư trú: số B, tổ H, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, (có mặt).
- Bị đơn: Bà Lê Thị D, sinh năm 1971, nơi cư trú: tổ H, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn N, sinh năm 1976, nơi cư trú: số B, tổ H, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Phan Quang S và bà Trương Thị X trình bày:
Ông S, bà X là chủ sử dụng phần đất diện tích 99m² tọa lạc ấp V, xã V (nay là phường N), thành phố C, tỉnh An Giang đã được Ủy ban nhân dân thị xã C (nay là thành phố C) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04191 QSDĐ/dE ngày 21/01/2002 cho bà X đứng tên. Quá trình sử dụng đất, ông S, bà X làm thủ tục đề nghị Văn phòng Đ – Chi nhánh C đo đạc, phục hồi mốc ranh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng được cấp thì ngày 19/5/2022 khi Cán bộ đo đạc đến đo đạc thì bà D, ông L (đã chết) ngăn cản và yêu cầu phải chừa lối đi vào nhà của họ. Đồng thời, ông Lê Văn N (cháu của bà X) cũng có ý ngăn cản không cho đo đạc. Nay, ông S, bà X khởi kiện yêu cầu bà D, ông N chấm dứt hành vi cản trở đo đạc, phục hồi mốc ranh để ông S, bà X được thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lê Thị D trình bày: Năm 1989, vợ chồng ông Lý Văn L và bà Lê Thị D có mua của bà Trương Thị T (mẹ ruột của ông Lê Văn N) 01 phần đất diện tích 100m² tọa lạc tổ H, khóm V, phường N, thị xã C (nay là thành phố C), giá 2.000.000 đồng, có lập giấy mua bán viết tay nhưng không có công chứng, chứng thực. Phần đất của bà D có vị trí phía trong phần đất của ông S, bà X và có 01 lối đi từ nhà bà D đi ngang qua nhà của ông S, bà X mới đến đường hẻm để đi lên đường lớn, lối đi này diện tích chiều ngang khoảng 1,3m và chiều dài khoảng 4m đến 5m, lối đi này đã có từ rất lâu trước khi ông S, bà X về phần đất này sinh sống, đây là lối đi duy nhất của nhà bà D, phần diện tích đất làm lối đi này là của ông Lê Văn V (cha của ông N) cho vợ chồng bà D để làm lối đi, việc tặng cho chỉ nói miệng không có lập giấy tờ. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của ông S, bà X thì bà D không đồng ý, bởi vì bà D không có tranh chấp hay cản trở ông S, bà X đo đạc nhưng khi đo đạc phải chừa lối đi cho nhà bà D.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn N trình bày: Phần đất của bà X được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc từ ông Lê Văn T1 (ông nội của ông N) tạo lập, phần đất của ông T1 có diện tích chiều ngang khoảng 40m, chiều dài từ vách núi đến bờ kênh. Sau khi ông T1 chết thì cha ông Nghĩa là ông Lê Văn V (đã chết) quản lý các phần đất này. Sau đó, do bà ngoại của ông N tên thường gọi là bà năm C1 (Nguyễn Thị T2) có 01 căn nhà trên mé lộ nhưng do già cả lớn tuổi, sống đơn thân nên cha ông N mới cho bà T2 di dời căn nhà phía trên xuống phần đất phía dưới này để ở, thuận tiện cho cha mẹ ông N chăm sóc, căn nhà của bà T2 có kết cấu mái lá, vách lá, cột gỗ, bà T2 sinh sống tại căn nhà này cùng với người cháu là Lý Hoài T3 (con ruột của bà X). Sau khi bà T2 chết (cách nay khoảng mười mấy năm) thì ông S, bà X về căn nhà này để ở, lý do cha ông N cho ở là để lo hương hỏa, thờ cúng. Sau khi cha ông N chết thì Trương Thị T (mẹ ông N) và ông N quản lý phần đất này. Đến khoảng năm 2018, ông S, bà X cất lại căn nhà kiên cố như hiện nay, khi ông S, bà X cất lại căn nhà thì gia đình ông N biết và không có ý kiến. Đối với việc ông S, bà X được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông N hoàn toàn không biết và cũng không có ký tên kế cận, không đồng ý đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông S, bà X được cấp nhưng không có yêu cầu gì, họ vẫn được quyền sử dụng. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông S, bà X thì ông N không thống nhất, ông S, bà X được quyền ở trên đất nhưng đo đạc lại thì ông N không đồng ý cho đo.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn ông S, bà X vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, đồng thời xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do bà X đứng tên nhưng đây là phần đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của vợ chồng ông S, bà X. Ngoài ra, không có tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp cho Tòa án.
- Ý kiến của Kiểm sát viên:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong thời gian chuẩn bị xét xử đúng pháp luật: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự; xác định thẩm quyền thụ lý, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý của các đương sự, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ đề làm căn cứ giả quyết vụ án và lập hồ sơ đúng theo quy định tại các Điều 195, 196, 198 và 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nên đảm bảo được quyền, nghĩa vụ của mình. Bị đơn bà D, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, thuộc trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt theo Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về giải quyết vụ án: Phần đất diện tích 99m², thuộc thửa đất số 81, tờ bản đồ số 28, tọa lạc khóm V, phường N, thành phố C được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04191QSDĐ/dEngày 21/01/2002 cho bà X đứng tên và Công văn số 2997/UBND-NC ngày 23/7/2024 của UBND thành phố C xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho bà X được thực hiện đúng trình tự, thủ tục của pháp luật về đất đai. Bà D, ông N có hành vi cản trở ông S, bà X đo đạc, phục hồi mốc ranh là xâm phạm đến quyền của người sử dụng đất hợp pháp. Do đó, căn cứ theo Điều 12, Điều 166 Luật đất đai năm 2013; Điều 169 Bộ luật Dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà D, ông N chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc đo đạc, phục hồi mốc ranh phần đất của ông S, bà X.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy:
Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ việc: Bị đơn bà Lê Thị D có nơi cư trú thuộc khu vực tổ H, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang nên yêu cầu kiện khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà D và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông P theo quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về nội dung:
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Quang S, bà Trương Thị X:
Xét thấy phần đất diện tích 99m², thuộc thửa đất số 81, tờ bản đồ 21, tọa lạc tại ấp V, xã V, thị xã C (nay là thành phố C) được UBND thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04191QSDĐ/dE ngày 21/01/2002 cho bà X đứng tên. Mặc dù giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ mình bà X đứng tên nhưng ông S, bà X đều thống nhất ông, bà cùng là chủ sử dụng phần đất nêu trên. Theo kết quả trích lục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà X thể hiện tại Biên bản xác định ranh giới – mốc giới khu đất có ông Lê Văn N, ông Lý Văn L ký tứ cận. Đồng thời, theo Công văn số 2997/UBND-NC ngày 23/7/2024 của UBND thành phố C xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà X được thực hiện đúng trình tự, thủ tục của pháp luật về đất đai. Bên cạnh đó, Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đo đạc, phục hồi mốc ranh đối với phần đất của bà ông S, bà X thì ông N, bà D không hợp tác, cản trở không cho đo đạc.
Từ những phân tích trên, có cơ sở xác định ông S, bà X có đầy đủ quyền quản lý, sử dụng đối với phần đất diện tích 99m², thuộc thửa đất số 81, tờ bản đồ 21, tọa lạc tại ấp V, xã V, thị xã C nên ông S, bà X đề nghị Văn phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh C đo đạc, phục hồi mốc ranh đối với phần đất trên là thực hiện quyền của người sử dụng đất. Bà D, ông N có hành vi cản trở, gây khó khăn không cho đo đạc là xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất theo khoản 10 Điều 12 Luật đất đai năm 2013. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông S, bà X buộc bà D, ông N chấm dứt hành vi cản trở đo đạc, phục hồi mốc ranh là có căn cứ chấp nhận theo Điều 166 Luật đất đai năm 2013 và Điều 169 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4] Chi phí tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí này nên không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn bà D và ông N phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận.
- Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, đồng thời nguyên đơn là người cao tuổi có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí nên không phải nộp tạm ứng án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 12, Điều 166 Luật đất đai năm 2013; Điều 169 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 244, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Quang S và bà Trương Thị X.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông S, bà X có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của bà D, ông Nghĩa là 15 ngày kể từ bản án được giao hoặc được niêm yết.
Buộc bà Lê Thị D, ông Lê Văn N chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật về việc đo đạc, phục hồi mốc ranh đối với phần đất diện tích 99m², thuộc thửa đất số 81, tờ bản đồ 21, tọa lạc tại ấp V, xã V, thị xã C (nay là thành phố C) tỉnh An Giang, được UBND thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04191QSDĐ/dE ngày 21/01/2002 cho bà Trương Thị X đứng tên.
Bà Lê Thị D, ông Lê Văn N mỗi người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Đại Nam |
Bản án số 73/2024/DS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG về yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất
- Số bản án: 73/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Quang S và bà Trương Thị X. Buộc bà Lê Thị D, ông Lê Văn N chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật về việc đo đạc, phục hồi mốc ranh đối với phần đất diện tích 99m2, thuộc thửa đất số 81, tờ bản đồ 21, tọa lạc tại ấp V, xã V, thị xã C (nay là thành phố C) tỉnh An Giang, được UBND thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04191QSDĐ/dE ngày 21/01/2002 cho bà Trương Thị X đứng tên. 2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị D, ông Lê Văn N mỗi người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
