Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HS-ST

Ngày: 07-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Văn Kiều.
  2. Ông Trần Văn Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Công và bà Huỳnh Thị Thúy Q - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 422/2024/QĐXXST-HS, ngày 22 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Trung T, sinh năm 1991, tại Đồng Tháp. Nơi cư trú: Tổ 33, khóm D, Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Dương Tòng C (chết) và bà Nguyễn Thị P; Có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2011;

- Tiền án: Ngày 16/12/2016 bị Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 07 năm 03 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 100/2016/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/9/2021.

- Tiền sự: Không.

- Tạm giữ ngày 11/3/2024, tạm giam ngày 20/3/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Nguyễn Văn D (B), sinh năm 1986 (vắng mặt).
    Cư trú: Ấp Đ, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Nguyễn Văn T2, sinh năm 1979 (vắng mặt).
    Cư trú: Tổ H, ấp A, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
  3. Trần Chí C1, sinh năm 1995 (vắng mặt).
    Cư trú: Tổ 38, khóm D, Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Trung T là người có 01 tiền án về Tội mua bán trái phép chất ma tuý chưa được xoá án tích. Vào khoảng tháng 02 năm 2024, Dương Trung T lên Thành phố Hồ Chí Minh thăm bạn gái và có nhờ một người bạn trên game tên N, không rõ nhân thân, địa chỉ lấy giùm 1.500.000 đồng ma tuý đá. Sau khi nhận được ma tuý từ N, T về lại thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Vào khoảng 13 giờ 40 phút, ngày 11/3/2024, Dương Trung T đang ở nhà, địa chỉ: số A, Tổ C, Khóm D, Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp thì nhận được cuộc gọi của Nguyễn Văn D (B), nói T chia lại 01 cái với giá 300.000 đồng, 01 cái này có nghĩa là chia 01 cái ma tuý đá, T đồng ý hẹn giao ma tuý tại đoạn đường trước số nhà B, đường B, Tổ 32, Khóm D, Phường D, thành phố C. Khoảng 15 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 66F1-377.46 đến địa điểm hẹn gặp D và đưa 01 tép ma tuý đá cho D, D trả cho T 300.000 đồng, 03 tờ mệnh giá 100.000 đồng. Trong lúc đang giao nhận ma tuý thì Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy - Công an thành phố C kết hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đ và Công an P1, thành phố C bắt quả tang Dương Trung T đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn D, D đang cầm 01 tép ma tuý trên tay trái. Tiến hành bắt giữ Dương Trung T thì T liền ném số tiền 300.000 đồng xuống đất ngay vị trí T đang đứng, cạnh lề đường đan.

- Tiến hành thu giữ:

  • + 01 đoạn ống bằng nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng. Tất cả được niêm phong trong bao thư màu trắng, ghi ký hiệu “A1”;
  • + Số tiền 300.000 đồng, mệnh giá 03 tờ 100.000 đồng, được niêm phong trong bao thư màu trắng, ghi ký hiệu "A2";
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xám đen, có gắn 01 thẻ sim số 0774037310 (không kiểm tra tình trạng, chất lượng);
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh, trong máy có gắn 01 thẻ sim số 0528956924 (màn hình phía trước bị nứt, không kiểm tra tình trạng, chất lượng);
  • + 01 xe mô tô biển số 66F1-377.46, màu xanh, số máy: IP2FMH-320189135, đã qua sử dụng là tài sản của bà Nguyễn Thị Ngọc T3;
  • + 01 xe mô tô biển số 54P3-2916, màu đỏ, đã qua sử dụng là tài sản của Nguyễn Văn D;
  • + 01 thẻ ngân hàng V1 số [...], tên “DUONG TRUNG THANH".

- Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Dương Trung T, tại Số A, Tổ C, Khóm D, Phường F, thành phố C, phát hiện bên trong phòng ngủ và tạm giữ những đồ vật sau:

  • + 01 cây kéo bằng kim loại, màu trắng, đã qua sử dụng;
  • + 01 bật lửa gas, màu đỏ, đã qua sử dụng;
  • + 01 chai gas, nhãn hiệu Bluestar, đã qua sử dụng;
  • + 01 đoạn ống hút bằng nhựa, màu trắng, một đầu cắt xéo, đã qua sử dụng;
  • + 01 đoạn ống hút bằng nhựa, màu trắng, một đầu hàn kín, đã qua sử dụng;
  • + 01 đoạn ống hút bằng nhựa, màu trắng, một đầu hàn kín, một đầu cắt xéo, đã qua sử dụng.

Ngoài ra, quá trình điều tra còn chứng minh được vào ngày 10/3/2024, T còn bán ma tuý cho Nguyễn Văn T2 và Trần Chí C1, cụ thể: Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 10/3/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Nguyễn Văn T2 gọi điện thoại cho Trần Chí C1 rủ C1 hùn tiền mua ma tuý về sử dụng. T2 đưa cho C1 250.000 đồng để C1 giữ tiền. Sau đó, T2 gọi điện thoại cho T hỏi mua 500.000 đồng ma tuý, T đồng ý và yêu cầu T2 chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng V1 số [...], tên “DUONG TRUNG THANH”. Sau đó, T2 chở C1 đến tiệm điện thoại di động Thịnh Phát 2 tại chợ T5, Phường F, thành phố C, nhờ Võ Quốc T4 chuyển cho T số tiền 490.000 đồng, trừ phí chuyển tiền 10.000 đồng. Sau khi chuyển tiền xong, T2 gọi điện thoại cho T thì T yêu cầu T2 đến cầu K thuộc xã M, thành phố C để giao ma tuý. T2 chở C1 đến trước khách sạn Q1 thì kêu C1 xuống xe đứng đợi, T2 tiếp tục chạy xe đi được khoảng 10m thì thấy T đang chạy chiều ngược lại nên T2 quay đầu xe chạy đến chỗ T. T giao cho T2 một đoạn ống hút hàn kín, bên trong có chứa ma túy. Lấy được ma túy, T2 chở C1 đến chỗ vắng người, chia mỗi người một nửa số ma tuý vừa mua được đem về nhà một mình sử dụng hết.

- Bản Kết luận giám định số 295/KL-KTHS, ngày 18/3/2024, của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Tinh thể rắn màu trắng chứa trong một đoạn ống hút màu trắng, hàn kín được niêm phong trong bao thư màu trắng ghi ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy có khối lượng 0,031gam loại Methamphetamine (số thứ tự 247, mục IIC thuộc Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của chính phủ).

- Phiếu xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 11/3/2024 của Công an P1, thành phố C, xác định Dương Trung T, Nguyễn Văn D dương tính với ma túy.

Đối với xe mô tô biển số 54P3-2916, màu đỏ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xám đen là tài sản cá nhân của Nguyễn Văn D nên đã trả lại cho D.

Đối với xe mô tô biển số 66F1-377.46, màu xanh, số máy: IP2FMH-32018913 là tài sản của bà Nguyễn Thị Ngọc T3 là chị vợ của T, cho T mượn để làm phương tiện đi lại, việc T sử dụng để bán ma tuý bà T3 không biết nên đã trả lại cho bà T3.

Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh, trong máy có gắn 01 thẻ sim số 0528956924 (màn hình phía trước bị nứt, không kiểm tra tình trạng, chất lượng) là tài sản cá nhân của Nguyễn Ngọc Hải  là con trai của T, T mượn để sử dụng, em  không biết T dùng liên lạc mua ma tuý nên đã trả lại cho Â.

Đối với thẻ ngân hàng V1 số [...], tên “DUONG TRUNG THANH” là tài sản cá nhân của T, không liên quan đến việc phạm tội nên đã trả lại cho T.

Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, biên bản khám xét khẩn cấp, kết luận giám định chất ma túy, biên bản kiểm tra điện thoại di động, lời khai người mua bán túy, kết quả cung cấp thông tin tài khoản ngân hàng, biên bản nhận dạng, biên bản đối chất cùng các chứng cứ khác được thu nhập trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 67/CT-VKS-TPCL, ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Dương Trung T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân nhân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Dương Trung T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Dương Trung T với mức án từ 08 năm đến 09 năm tù.

Về xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo không tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định, Biên bản kiểm tra dữ liệu điện thoại di động, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định

Dương Trung T là người có 01 tiền án, bị xử phạt 07 năm 03 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” chưa được xoá án tích. Vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 11/3/2024, trước cửa nhà số B, đường B, tổ C, khóm D, phường D, thành phố C, Đồng Tháp, Dương Trung T có hành vi bán trái phép chất ma tuý, khối lượng 0,031gam loại Methamphetamine cho Nguyễn Văn D với số tiền 300.000 đồng thì bị bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật. Ngoài ra trước đó vào ngày 10/3/2024, T có hành vi bán trái phép chất ma tuý 01 lần cho Nguyễn Văn T2 với số tiền 490.000 đồng, với số tiền thu lợi bất chính tổng cộng là 790.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Bị cáo T là người có 01 tiền án, bị xử phạt 07 năm 03 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” chưa được xoá án tích, tiếp tục có hành vi bán trái phép chất ma túy 02 lần, trong đó đã bán trái phép chất ma túy cho D 01 lần, với số tiền 300.000 đồng và đã bán trái phép chất ma túy cho T2 01 lần, với số tiền 490.000 đồng, thu lợi bất chính với tổng số tiền là 790.000 đồng.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, lời luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Dương Trung T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

...

q) Tái phạm nguy hiểm; ...”

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, mà còn ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Người sử dụng ma tuý chỉ biết sử dụng ma túy để thỏa mãn cho bản thân, không chăm sóc cho gia đình, ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng và ma túy còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó, cần áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có thời gian học tập, cải tạo, trở thành người tốt có ích cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều trà và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Tiền Việt Nam: 300.000 đồng từ việc bán trái phép chất ma túy mà có.
  • - Buộc bị cáo nộp lại số tiền 490.000 đồng từ việc bán trái phép chất ma túy mà có, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • - Tịch thu tiêu hủy những vật cấm, tài sản không có giá trị gồm:
  • + 01 vỏ đoạn ống hút nhựa còn lại sau giám định được niêm phong lại trong một bao thư, ghi “Niêm phong số 277, ngày 11/3/2024” có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ tên Lê Minh V, Lê Thanh B, Nguyễn Phước L, Nguyễn Văn D;
  • + 01 cây kéo bằng kim loại, màu trắng, đã qua sử dụng;
  • + 01 bật lửa gas, màu đỏ, đã qua sử dụng;
  • + 01 chai gas, nhãn hiệu Bluedtar màu đen, đã qua sử dụng;
  • + 01 đoạn ống hút bằng nhựa, màu trắng, một đầu bị cắt xéo, đã qua sử dụng;
  • + 01 đoạn ống hút bằng nhựa, màu trắng, một đầu hàn kín;
  • + 01 đoạn ống hút bằng nhựa, màu trắng, một đầu hàn kín, một đầu cắt xéo, đã qua sử dụng.

[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập không ổn định nên không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[6] Về các vấn đề khác:

Đối với người tên N đã giao ma tuý cho T nhưng không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Võ Quốc T4 khi chuyển tiền đến tài khoản của Dương Trung T theo yêu cầu của T2, hoàn toàn không biết là tiền mua ma tuý nên không xem xét xử lý.

Đối với Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T2, Trần Chí C1 là người mua ma túy của Dương Trung T để sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Đồng Tháp đã có văn bản chuyển hồ sơ đến địa phương nơi cư trú để xem xét xử lý theo quy định.

Đối với Nguyễn Văn D khi bắt quả tang cầm trên tay 01 tép ma túy theo Kết luận giám định là chất ma túy có khối lượng 0,031 gam, loại Methamphetamine chưa đủ định lượng để xử lý hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nên không xem xét xử lý.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tại phiên tòa, như đã phân tích nêu trên là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Dương Trung T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Dương Trung T 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/3/2024.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: Tiền Việt Nam: 300.000 đồng (theo giấy nộp tiền ngày 13/6/2024 của Ngân hàng C2 Chi nhánh Đ).

Buộc bị cáo Dương Trung T nộp lại số tiền 490.000 đồng, nộp vào ngân sách Nhà nước.

Tịch thu tiêu hủy gồm:

  • + 01 vỏ đoạn ống hút nhựa còn lại sau giám định được niêm phong lại trong một bao thư, ghi “Niêm phong số 277, ngày 11/3/2024” có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ tên Lê Minh V, Lê Thanh B, Nguyễn Phước L, Nguyễn Văn D;
  • + 01 cây kéo bằng kim loại, màu trắng, đã qua sử dụng;
  • + 01 bật lửa gas, màu đỏ, đã qua sử dụng;
  • + 01 chai gas, nhãn hiệu Bluedtar màu đen, đã qua sử dụng;
  • + 01 đoạn ống hút bằng nhựa, màu trắng, một đầu bị cắt xéo, đã qua sử dụng;
  • + 01 đoạn ống hút bằng nhựa, màu trắng, một đầu hàn kín;
  • + 01 đoạn ống hút bằng nhựa, màu trắng, một đầu hàn kín, một đầu cắt xéo, đã qua sử dụng.

(Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/8/2024).

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Dương Trung T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND TP. Cao Lãnh;
  • - Cơ quan điều tra CA TP. Cao Lãnh;
  • - Cơ quan THAHS CA TP. Cao Lãnh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thanh Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 07/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Trung T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger