Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM ĐẢO

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 73/2024/HS-ST

Ngày 29 - 8 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Trần và bà Nguyễn Thị Chuyên.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Tuyết, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn La, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/HSST ngày 13 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Văn B, sinh ngày 13/02/1995; Nơi cư trú: thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Sán dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân H và bà Đào Thị Thanh C; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V, có mặt.

  2. Hoàng Văn C1, sinh ngày 20/4/1991; Nơi cư trú: thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn K (đã chết); và bà Chu Thị V; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo C1 là ông Lê Văn D, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh V, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Sáng ngày 06/5/2024, Trần Văn B, sinh năm 1995, ở thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đem theo 09 gói ma túy (heroine) được để trong một chiếc hộp nhựa hình chữ nhật một mình đi bộ đến nhà nghỉ S thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc mục đích để thuê phòng nghỉ và bán ma túy. Đến nơi, B gặp bà Lưu Thị H1, sinh năm 1978, trú tại thôn P, xã Đ, huyện T, là chủ nhà nghỉ, đặt vấn đề với bà H1 thuê phòng để nghỉ, được bà H1 bố trí phòng 303. Khoảng hơn 11 giờ cùng ngày, khi B đang ở phòng 303, Hoàng Văn C1, sinh năm 1991, trú tại thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang sử dụng số điện thoại 0987.502.xxx gọi vào số điện thoại 0329.443.xxx của B hỏi “Anh có ma túy bán không, để em một cái hai trăm”, B đáp “Có”, C1 tiếp tục hỏi “Thế anh ở đâu để sáng mai em xuống”, B nói: “Anh ở phòng C nhà N xã Đ, T”, nghe B nói vậy Chanh tắt máy. Đến khoảng hơn 09 giờ ngày 07/5/2024, anh Trần Văn T, sinh năm 1983, trú tại thôn Q, xã Y, huyện T (là bạn của B) đến nhà nghỉ S, vào phòng 303 chơi với B. Khoảng 09 giờ ngày 07/5/2024, C1 một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Elegant, BKS 22S1- 162.70, màu đen bạc đi từ nhà sang nhà nghỉ S để mua ma túy. Chanh đến trước cửa phòng 303, dùng tay gõ cửa phòng và nói “Em đây, em gọi anh từ hôm qua”. Lúc này, B và T đang nằm nghỉ trong phòng, B hiểu ý nên dậy đi lấy 01 gói ma tuý trong tổng số 09 gói ma túy đem theo rồi đi ra mở cửa phòng. Tại đây, C1 lấy ra số tiền 200.000 đồng đưa cho B, B cầm tiền đúc vào túi quần Sort bên trái đang mặc và đưa lại cho C1 01 gói ma tuý, C1 cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải, đúng lúc này thì bị lực lượng Công an huyện T bắt quả tang B và C1 có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Cơ quan công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ các vật chứng gồm:

Thu giữ tại lòng bàn tay phải của C1 01 gói giấy nhỏ màu xám, bên trong có chứa chất cục bột màu trắng (niêm phong ký hiệu M1); thu giữ trên mặt bàn được kê trong phòng 303 của nhà nghỉ S một hộp nhựa hình hộp chữ nhật, bên trong có 08 gói giấy nhỏ màu xám, trong mỗi gói nhỏ này có chứa chất cục bột màu trắng (niêm phong ký hiệu M2); thu giữ trong túi quần Sort bên trái của B đang mặc số tiền 470.000 đồng; thu giữ trong túi quần Sort bên phải của B 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu xanh, đã qua sử dụng; thu giữ trong túi quần Sort bên trái đang mặc của Chanh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, đã qua sử dụng; tạm giữ của C1 01 xe mô tô nhãn hiệu Elegant, BKS: 22S1- 162.70, màu đen bạc, đã cũ đã qua sử dụng.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn B tại thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, kết quả, không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 07/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an Công an huyện T đã ra quyết định trưng cầu giám định số 564 trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh V giám định chất ma túy trong các mẫu ký hiệu M1, M2. Tại Kết luận giám định số 1278/KLGĐ ngày 11/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh V, kết luận:

  • 1 Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng 0,2463g (không phảy hai bốn sáu ba gam, không kể bao bì) là ma túy; loại Heroine,.
  • 2 Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu M2 gửi giám định có tổng khối lượng 0,8194g(không phảy tám một chín bốn gam, không kể bao bì) là ma túy; loại Heroine".

Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: M1 = 0,1271 gam mẫu; M2 = 0,6083 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói.

Về nguồn gốc số ma túy trên, Trần Văn B khai: Ngày 05/5/2024, tại khu vực đường tàu thuộc thành phố V, B gặp và mua được của một nam thanh niên khoảng 30 tuổi (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) 09 gói ma tuý (heroine) với giá 1.500.000đ, mục đích về bán kiếm lời. Đến ngày 07/5/2024, Bình bán cho C1 01 gói ma túy Heroine thì bị bắt.

Đối với người nam giới bán ma tuý, do B khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra trong vụ án này, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh nếu có căn cứ xử lý sau.

Đối với bà Lưu Thị H1, quá trình điều tra xác định cho Trần Văn B thuê phòng 303 để nghỉ ngơi, không biết việc B đem ma tuý vào và bán trái phép chất ma tuý tại địa điểm do mình quản lý nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bà H1.

Đối với anh Trần Văn T có mặt tại phòng 303 thời điểm Bình bán trái phép chất ma tuý, quá trình điều tra xác định, anh T là bạn đến chơi với B, không biết, không liên quan đến việc mua bán ma tuý của B nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh T .

Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với mẫu vật ma túy do Phòng K1 Công an tỉnh V hoàn trả sau giám định gồm: M1 = 0,1271 gam; M2 = 0,6083 gam cùng toàn bộ bao gói là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 470.000đ thu giữ của Trần Văn B, quá trình điều tra xác định trong đó có 200.000₫ là tiền do Bình bán ma túy mà có cần tịch thu sung quỹ nhà nước; 270.000đ còn lại là tài sản hợp pháp của B không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu xanh, đã qua sử dụng, bên trong gắn thẻ sim có số thuê bao 0329443943 thu giữ của Trần Văn B và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, đã cũ đã qua sử dụng, bên trong gắn thẻ sim có số thuê bao 0987502787 thu giữ của Hoàng Văn C1, quá trình điều tra xác định là các tài sản của B và C1 dùng làm phương tiện để liên lạc, trao đổi mua bán trái phép chất ma túy cần tịch thu bán phát mại sung quỹ Nhà nước, đối với hai thẻ sim cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Elegant, BKS: 22S1- 162.70, đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Hoàng Văn C1, đăng ký chính chủ, bị cáo khai đăng ký xe bị mất. Bị cáo sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện đi lại, không cầm cố hay bán xe lấy tiền mua ma tuý nên xác định chiếc xe không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho chủ sở hữu nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tại Bản cáo trạng số: 71/CT-VKSTĐ ngày 12/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Trần Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và Hoàng Văn C1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo: Trần Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Hoàng Văn C1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Trần Văn B phạt: Trần Văn B từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, đối với Hoàng Văn C1 phạt: Hoàng Văn C1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo Trần Văn B và bị cáo Hoàng Văn C1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo C1 vắng mặt có gửi bài phát biểu đề nghị hội đồng xét xử xam xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. [2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, thể hiện như sau: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 07/5/2024, tại khu vực hành lang trước cửa phòng 303 nhà nghỉ S thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Trần Văn Bình B1 trái phép cho Hoàng Văn C1 01 gói ma tuý qua giám định xác định có khối lượng 0,2463gam, loại Heroine để C1 sử dụng cho bản thân, C1 đã nhận ma tuý đang cầm trên tay thì bị bắt. Quá trình bắt quả tang, Cơ quan điều tra còn thu giữ tại phòng 303 do B thuê để ở 08 gói ma tuý qua giám định xác định có khối lượng 0,8194 gam, loại Heroine. B khai nhận, toàn bộ số ma tuý Heroine gồm 01 gói bán cho C1 và 08 gói cất giấu trong phòng nghỉ đều là của B để bán kiếm lời.

    Trong vụ án này Trần Văn B phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý với tổng khối lượng 1,0657 gam ma túy Heroine và Hoàng Văn C1 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý với khối lượng 0,2463 gam ma túy Heroine.

  3. [3] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Hành vi mua ma túy bán kiếm lời của Trần Văn B đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.

    Hành vi mua ma túy để sử dụng cho bản thân của Hoàng Văn C1, đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

    Nội dung điều luật quy định:

    Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy.

    “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

    Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

    “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy .........thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”

    c) Heroine, C2, Methamphetamine, A, MDMA ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

    Do đó, Bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

  4. [4] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma tuý là một tệ nạn cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, sói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Bản thân các bị cáo đều có nhân thân xấu là đối tượng nghiện ma túy nhưng không chịu rèn luyện, tu dưỡng bản thân. Hội đồng xét xử xét thấy khi lượng hình xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nhưng cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo các bị cáo trở thành người công dân lương thiện, sống có ích cho gia đình và xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

  5. [5] Về tình tiết tăng nặng: Không có.

  6. [6] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  7. [7] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

  8. [8] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn toàn bộ bao gói mẫu trả giám định của phòng K1 công an tỉnh V hoàn trả sau giám định gồm M1 = 0,1271 gam; M2 = 0,6083 gam.

    Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng là tiền do Bình bán trái phép ma tuý cho C1 mà có.

    Trả lại cho bị cáo B 270.000đ nhưng tạm giữ đảm bảo thi hành án.

    Tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu xanh, đã qua sử dụng của Trần Văn B và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, đã cũ đã qua sử dụng của Hoàng Văn C1.

    Tịch thu tiêu hủy đối với hai thẻ sim.

    Trả lại bị cáo Hoàng Văn C1 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Elegant, BKS: 22S1- 162.70 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

  9. [10] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và bị cáo Hoàng Văn C1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

  2. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    - Xử phạt: Bị cáo Trần Văn B 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 07/5/2024).

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    - Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn C1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 07/5/2024).

  3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy toàn toàn bộ bao gói mẫu trả giám định của phòng K1 công an tỉnh V hoàn trả sau giám định gồm M1 = 0,1271 gam; M2 = 0,6083 gam.

    Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng là tiền do Bình bán trái phép ma tuý cho C1 mà có.

    Trả lại cho bị cáo B 270.000₫ nhưng tạm giữ đảm bảo thi hành án.

    Tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu xanh, đã qua sử dụng của Trần Văn B và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, đã cũ đã qua sử dụng của Hoàng Văn C1.

    Tịch thu tiêu hủy đối với hai thẻ sim.

    Trả lại bị cáo Hoàng Văn C1 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Elegant, BKS: 22S1-162.70 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

    (Các vật chứng trên có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/8/2024).

  4. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Trần Văn B và Hoàng Văn C1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Trại TGCA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Tam Đảo;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Đảo;
  • - Công an huyện Tam Đảo;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (mua bán và tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Bình phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và Hoàng Văn Chanh phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger