|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 73/2024/DS-ST
Ngày: 26/7/2024
V/v tranh chấp hợp đồng
dân sự vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên tòa: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hồng Xuân;
- Ông Hứa Thanh Hải.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên toà: Bà Bùi Thanh Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 46/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST - DS ngày 28 tháng 5 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đình S, sinh năm 1989; thường trú: Thôn B, xã K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ liên hệ: Số F, đường H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Ngô Công H, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ F, khu phố B, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương – là đại diện theo ủy quyền (hợp đồng ủy quyền ngày 11/12/2023), có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Đình T, sinh năm 1975; địa chỉ: Số A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Đình S trình bày:
Xuất phát từ quan hệ quen biết, ngày 31/12/2021 nguyên đơn ông Nguyễn Đình S có cho bị đơn ông Lê Đình T vay số tiền 500.000.000 đồng, thời hạn vay là 15 ngày từ ngày 31/12/2021 đến ngày 15/01/2022. Việc vay tiền có lập thành văn bản, tuy nhiên khi đến hạn trả nợ, ông S không trả lại số tiền đã vay cho ông T và cố tình tránh né mặc dù ông S đã nhiều lần liên hệ yêu cầu ông T trả tiền nợ. Nhận thấy hành vi của ông T là vi phạm nghĩa vụ trả nợ và xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông S nên ông S đã khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Lê Đình T phải trả cho ông Nguyễn Đình S số tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng.
- Buộc ông Lê Đình T phải trả cho ông Nguyễn Đình S số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả là 143.750.000 đồng với lãi suất 1.25%/tháng (Mức lãi suất quá hạn chưa trả bằng 150% mức lãi suất vay cơ bản là 1%/tháng) tạm tính từ ngày 15/01/2022 đến ngày 15/12/2023.
Quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn có thay đổi yêu cầu khởi kiện về tiền lãi, cụ thể: Yêu cầu ông T trả tiền lãi trên nợ gốc theo mức lãi suất 10%/năm, tạm tính từ ngày 16/01/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 26/7/2024 (tính tròn là 02 năm 06 tháng) với số tiền 500.000.000 đồng x 10%/năm x 02 năm 06 tháng = 125.000.000 đồng. Như vậy tổng số tiền gốc và lãi ông S yêu cầu ông T trả nợ tạm tính đến 26/7/2024 là 625.000.000 đồng
Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Giấy mượn tiền, hợp đồng ủy quyền (bản chính); chứng minh nhân dân (bản chứng thực).
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không đến Tòa án làm việc, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không rõ lý do.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền của Toà án và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn để yêu cầu trả lại số tiền 625.000.000 đồng nợ gốc và tiền lãi do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Bị đơn có nơi cư trú tại địa chỉ số A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể yêu cầu tiền lãi trên nợ gốc theo mức lãi suất 10%/năm, tạm tính từ ngày 16/01/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 26/7/2024 (tính tròn là 02 năm 06 tháng) với số tiền 500.000.000 đồng x 10%/năm x 02 năm 06 tháng = 125.000.000 đồng. Việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện và phù hợp với quy định tại Điều 5, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Nguyên đơn có cho bị đơn vay số tiền 500.000.000 đồng, việc vay mượn có lập thành văn bản là Giấy vay tiền ngày 31/12/2021 do ông Lê Đình T ký tên, thời hạn vay đến ngày 15/01/2022, không thỏa thuận về lãi suất và tiền lãi, do đó có cơ sở xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có phát sinh giao dịch dân sự dưới hình thức hợp đồng vay tài sản.
[2.2] Hợp đồng vay tài sản ký kết ngày 31/12/2021 giữa nguyên đơn ông Nguyễn Đình S và bị đơn ông Lê Đình T là hợp đồng song vụ, quyền và nghĩa vụ của hai bên phát sinh sau khi ký kết hợp đồng. Mặc dù đã hết thời hạn trả nợ bị đơn vẫn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn theo thỏa thuận, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán toàn bộ nợ gốc là phù hợp với quy định tại các Điều 463 và 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.3] Về tiền lãi và mức lãi suất: Bị đơn chậm trả tiền nên phải có nghĩa vụ trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Do đó, nguyên đơn yêu cầu tính tiền lãi trên nợ gốc theo mức lãi suất 10%/năm từ ngày 16/01/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 26/7/2024 với số tiền 125.000.000 đồng là phù hợp quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Điều 227, 228, 244, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Các Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đình S về việc tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản với bị đơn ông Lê Đình T.
- Buộc ông Lê Đình T phải thanh toán cho ông Nguyễn Đình S số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) nợ gốc và 125.000.000 đồng (một trăm hai mươi lăm triệu đồng) tiền lãi, tổng cộng 625.000.000 đồng (sáu trăm hai mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Đình T phải chịu 29.000.000 đồng (mười bốn triệu, tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông Nguyễn Đình S số tiền 14.875.000 đồng (mười bốn triệu, tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004611 ngày 19/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An.
- Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Quang Ngọc Nhân |
Bản án số 73/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Số bản án: 73/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: VTS
