|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 73/2024/HS-PT Ngày: 14/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Thông
Các thẩm phán: Bà Hoàng Thị Hải Hường và bà Hoàng Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng T - Kiểm sát viên.
Ngày 14/05/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 07/TLPT-HS ngày 21/02/2024 đối với bị cáo Nguyễn Hải Đ, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 19/01/2006; nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 10/12; con ông Nguyễn Minh L và bà Thân Thị H; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đầu thú bị tạm giữ từ ngày 13/8/2023 đến ngày 19/8/2023, hiện bị cáo tại ngoại (có mặt).
* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đ:
Ông Nguyễn Minh L, sinh năm 1966 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang
Người bào chữa cho bị cáo Đ:
Bà Nguyễn Thị H1 - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B, địa chỉ: Số F, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Có mặt)
Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không liên quan đến kháng cáo, không kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 10 phút ngày 12/7/2023, Nguyễn Hải Đ cùng Trần Chí C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đen, không biển kiểm soát đi chơi. Đến khoảng 21 giờ 45 phút Đ, C rủ Thái A, D đến C chơi, trên đường đi Đăng rủ cả nhóm đi cướp điện thoại, D và Thái A không đồng ý nên bảo thôi đi về. Trên đường đi, nhóm của Đ gặp nhóm của anh Ngô Việt H2 trên đoạn đường gần Bệnh viện Đ1. Đ và C bám theo nhóm của anh H2. Khi qua trường trung học cơ sở xã L thì đuổi kịp nhóm của H2. Do xe của H2 bị hết điện nên có gọi Nguyễn Đặng Tùng D1 nhờ D1 ra đẩy xe hộ. Lúc này xe của Đ vượt lên trước xe của H2, Đ hỏi đi đâu mà về muộnthế,nhóm của H2 trả lời là đi Bắc Giang về, xe bị hết điện. C chở Đ vượt lên trước xe của H2 khoảng gần 100 mét thì gặp D và Thái A, C chở Đ đi song song với D và Thái A, Đ có nói với D và Thái A là “Cướp điện thoại của bọn này đi” nhưng D vàThái Anh không đồng ý.
Khoảng 22 giờ 10 phút, xe của H2 đi đến đoạn đường thuộc khu đô thị Đ thuộc tổ dân phố B, thị trấn N, huyện T. Do xe đạp điện của H2 hết điện không đi được nên cả nhóm phải đỗ lại. Khi Đ và C đi đến gần chỗ xe của nhóm H2 đang dừng đỗ, C hỏi “cho anh mượn máy anh phát mạng cái”, Đăng hỏi “cho anh mượn máy anh vào nick anh gọi bạn anh lên đẩy anh về xe anh hết xăng”. H2 xuống xe và đưa chiếc điện thoại Iphone XS Max màu đen cho Đăng mượn. Khoảng 05 phút bố H2 gọi điện thoại đến nên Đ đưa máy điện thoại lại cho H2. Sau đó Đ lại mượn điện thoại của H2.Khi P, Q, Tuấn A1 đi đến, H3 đi cùng với P, Q và Tuấn Al về trước, còn T1 ở lại cùng H2. Khoảng 22 giờ 30 phút có hai xe đạp điện đi gần đến chỗ H2, H2 ra gần giữa đường cách vị trí chỗ Đ đứng khoảng 04 đến 05 mét giơ tay gọi xin đi nhờ. Lúc này, C đang ngồi trên xe bật khoá xe nổ máy, Đ liền nhẩy lên xe của C cùng C bỏ chạy, H2 đuổi theo kéo tay của C để giữ lại nhưng C vung tay nên H2 không giữ được C. C chở Đ đi về rẽ vào đường đi xã A, qua làng D, xã C về nhà C. Khoảng 23 giờ, C chở Đ đến chỗ hẹn gặp Thái A, tại đây, Đ có nói với Thái A “Tôi vừa giật được con Iphone Xs Max mai mang đi bán mai tôi cho bạn 500.000 đồng”, Thái A bảo tôi không lấy, sau đó C trả điện thoại cho Thái A và đưa Thái A về nhà C ngủ.
Sáng ngày 13/08/2023, Đ sang nhà C rồi cùng C mang chiếc điện thoại cướp giật được đến cửa hàng Đ2 ở tổ dân phố B, thị trấn C, huyện T, bán chiếc điện thoại cho anh Việt A2 được 5.100.000 đồng. Đ bảo anh Việt A2 chuyển số tiền 5.100.000 đồng vào số tài khoản 0325041676 ngân hàng M. Sau khi nhận tiền Đ chuyển số tiền 3.000.000 đồng vào tài khoản 1111599992005 để trả nợ cho Giáp Khánh L1. Số tiền còn lại Đ rút tiền mặt và chia cho C 1.000.000 đồng.
Sau khi Đ bán điện thoại cho anh Nguyễn Việt A3, anh Việt A3 đã bán điện thoại trên cho anh Ngô Đức H4 với giá 6.400.000 đồng.
Ngày 13/8/2023, sau khi được biết chiếc điện thoại mình mua là tài sản do người khác phạm tội mà có nên anh H4 đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 điện thoại Iphone Xsmax.
Cùng ngày 13/8/2023, Nguyễn Hải Đ đến Cơ quan điều tra đầu thú và bị thu giữ: 01 chiếc quần đùi, 01 đôi dép.
Ngày 13/8/2023, Cơ quan điều tra bắt giữ Trần Chí C và thu giữ: 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng Honda Wave màu đen không lắp biển kiểm soát, xe cũ đã qua sử dụng, 01 đôi dép lê,01 áo cộc tay, 01 quần đùi.
Ngày 14/8/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Hải Đ và Trần Chí C, kết quả khám xét: T2 tại cửa sổ nhà ở của Nguyễn Hải Đ 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 màu trắng, có số Imei 353971101911746 lắp sim số 0325.041.676, máy cũ đã qua sử dụng. Thu giữ trong đôi giày để trên kệ giày, đặt ở góc tường bên trái phòng ngủ của Trần Chí C số tiền 1.000.000 đồng.Thu giữ tại nền nhà trước cửa phòng ngủ của Trần Chí C 01 sim thuê bao di động của nhà mạng Vinaphone.
Ngày 14/8/2023, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Giáp Khánh L1 số tiền 3.000.000 đồng; thu giữ của Nguyễn Thái A4 01 chiếc điện thoại Iphone 12 pro Max màu xanh rêu.
Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 32/KL-ĐGTS ngày 22/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu đen, bản 64GB, kiểu máy CH/A, điện thoại cũ đã qua sử dụng trị giá 7.000.000₫ (Bẩy triệu đồng).01 (một) chiếc sim điện thoại số 0927.870.xxx, 01 (một) chiếc sim điện thoại số 0969.206.xxx, không định giá do không có đủ thông tin làm cơ sở định giá.
* Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải Đ 10 (mười) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/8/2023 đến 19/8/2023.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi án sơ thẩm xét xử xong, ngày 22/01/2024 bị cáo Nguyễn Hải Đ có đơn kháng cáo với nội dung: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Bị cáo giữ xin thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo xin được hưởng án treo. Bị cáo xác định sau khi sự việc xảy ra bị cáo có tác động gia đình bồi thường cho anh Nguyễn Việt A3 số tiền 5.100.000đồng.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đ, ông Nguyễn Minh L trình bày: Bị cáo đã tác động ông bồi thường cho anh Việt A3 số tiền 5.100.000đồng. Đến nay ông không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền này.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra, nên đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Hải Đ, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Hải Đ không phải chiu án phí hình sự phúc thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hải Đăng. Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo với mức hình phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa và không tham gia tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai, vi phạm quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hải Đ nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan,người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Vào hồi 22 giờ 30 phút ngày 12/8/2023, tại khu đô thị Đ thuộc tổ dân phố B, thị trấn N, huyện T; sau khi được anh Ngô Việt H2 giao cho tài sản là chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xsmax màu đen, bản 64GB, kiểu máy CH/A, trị giá 7.000.000₫ (Bẩy triệu đồng), Nguyễn Hải Đ cùng Trần Chí C đã nhanh chóng tẩu thoát để chiếm đoạt tài sản của anh Ngô Việt H2.
Bị cáo công khai chiếm đoạt tài sản của người khác một cách nhanh chóng và bất ngờ rồi tẩu thoát để tránh sự phản kháng của anh Ngô Việt H2, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, đã đủ căn cứ xác định bị cáo Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”. Vì vậy cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hải Đ:
Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất mức độ do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, xử phạt bị cáo Nguyễn Hải Đ 10 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” là có căn cứ.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo xuất trình được tài liệu, chứng cứ để xem xét là Biên lai thu tiền số 0000577 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên (tự nguyện nộp tiền án phí sơ thẩm); Bản gốc Ghi nhận tấm lòng vàng của UBMTTQ xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang do có nhiều đóng góp cùng địa phương chăm lo “Tết cho người nghèo” năm 2024; Bản sao: Huy chương bảo vệ an ninh tổ quốc năm 1997, H4 chường vì thế hệ trẻ năm 1994, Huy chương vì sự nghiệp Khoa học và công nghệ năm 1999 của ông Nguyễn Thế P1.
Đối với tình tiết bị cáo tác động gia đình trả số tiền 5.100.000đồng cho anh Việt A3 (là người có hành vi mua lại chiếc điện thoại di động của các bị cáo nhưng không biết điện thoại do phạm tội mà có), tại cấp sơ thẩm nhận định là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên xét thấy, bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho anh Việt A3, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét áp dụng cho bị cáo.
Hội đồng xét xử thấy, bị cáo Nguyễn Hải Đ có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Căn cứ Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo. Do vậy, có căn cứ để chấp nhận đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Hải Đ, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm nhưng cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà, là có căn cứ.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hải Đ được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Hải Đ; sửa bản án sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Căn cứ khoản 1 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải Đ 10 (mười) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm 08 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Hải Đ cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể Quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Hải Đ không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Xác nhận bị cáo Nguyễn Hải Đ đã nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm tại Biên lai thu tiền số 0000577 ngày 05/04/2024,tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Trung Thông |
Bản án số 73/2024/HS-PT ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm (cướp giật tài sản)
- Số bản án: 73/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cướp giật tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hải Đ Cướp giật tài sản
