Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

----------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

Bản án số: 73/2024/HS-ST

Ngày 25 tháng 4 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Tuấn, ông Nguyễn Xuân Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Việt Anh – Thư ký Toà án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa: Bà Trần Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử công khai trực tiếp vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST- HS ngày 10/4/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Hoàng G - Giới tính: Nam

Tên gọi khác: Không. Sinh năm: 1989tại: Hà Nội

Nơi ĐHKTT: SỐ H phố T, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.

Chỗ ở: Không nơi ở cố định.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12

Họ tên cha: Phạm Hoàng H – sinh năm: 1968.

Họ tên mẹ: Trần Bích H1 – sinh năm: 1970.

Tiền án, tiền sự:

  • Ngày 14/12/2006, Công an phường Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” – Ngoài thời hiệu.
  • Ngày 20/02/2012, Tòa án ND thành phố Hà Nội xử phạt 26 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 52 tháng về tội “Cố ý gây thương tích” (AS: 338/HSPT). Xác minh thi hành án, đã nộp án phí hình sự, án phí dân sự theo biên lai số 6867 ngày 15/3/2012 - Án tích đã xóa.
  • Ngày 09/6/2015, Tòa án ND quận Đống Đa xử phạt 07 năm tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Tổng hợp hình phạt 26 tháng tù tại bản án số 338/HSPT của Tòa án ND thành phố Hà Nội buộc phải chấp hành hình phạt 09 năm 02 tháng tù giam (AS: 139/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/10/2020; xác minh thi hành án, đã nộp án phí theo biên lai số 1797 ngày 06/10/2015 - Án tích đã xóa.

Tạm giữ: 05/01/2024 Tạm giam: 11/01/2024 Số giam: 119E2/21.

Bị cáo hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số I - Công an T1.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Chu Thị Kim N Sinh năm: 1988

HKTT: 26/27 L, phường N, quận L, Hà Nội.

- Anh Chu Thành C Sinh năm: 1995

HKTT: 26/27 L, phường N, quận L, Hà Nội.

(Đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 04/01/2024, tổ công tác C1D2-PK02E – Công an thành phố T1 đang làm nhiệm vụ trên địa bàn phát hiện Phạm Hoàng G điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, không biển kiểm soát chở Chu Thị Kim N (sinh năm: 1988; HKTT: 26/27 L, phường N, quận L, Hà Nội) tại lòng đường trước cửa số E phố L, phường H, quận H, Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong tất đen của G có 01 túi ni lông màu xanh kích thước khoảng 7x15cm trên có in chữ “Thái Nguyên” màu đỏ, bên trong có 01 túi ni lông màu trắng kẻ viền màu trắng, kích thước 5x8cm chứa tinh thể màu trắng. Kiểm tra Chu Thị Kim N không phát hiện, thu giữ gì liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã phối hợp với Công an phường H tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật theo quy định và đưa người, phương tiện, tang vật liên quan về trụ sở Công an phường H để giải quyết. Tại trụ sở Công an phường, G khai nhận hành vi phạm tội, khai túi ni lông chứa tinh thể màu trắng bị thu giữ là của G mua về để sử dụng.

Tang vật thu giữ của Phạm Hoàng G: 01 túi ni lông màu xanh, kích thước khoảng 7x15 cm, trên có in chữ “Thái Nguyên” màu đỏ, bên trong có 01 túi ni lông màu trắng, kẻ viền màu trắng, kích thước khoảng 5x8 cm chứa tinh thể màu trắng; 01 đôi tất màu đen, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, đã qua sử dụng, sim số 0944832626. (BL: 27).

Thu giữ của Chu Thị Kim N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, sim số: 0944719009, IMEI: 352850796483305, máy cũ, đã qua sử dụng; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, không biển kiểm soát, số khung: RLHJA3920PY404547; số máy: JA39E-3012273, xe cũ, đã qua sử dụng. (BL: 87).

Tại Bản Kết luận giám định số 460/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K - Công an T1 kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 3,325 gam. (BL: 33).

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Hoàng G khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 04/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy “đá”, G đã đến khu vực ngã 3 H - P gặp và mua được của 01 người đàn ông không quen biết tên T 01 túi ni lông màu xanh bên trong có 01 túi ni lông màu trắng, kẻ viền màu trắng, kích thước khoảng 5x8 cm, chứa tinh thể màu trắng là ma túy “đá” với giá 1.000.000 đồng. Mua xong, G mang theo người rồi đi đến khu vực gầm cầu L và sử dụng một phần ma túy “đá” bằng hình thức hút qua cóng tự chế bằng chai nhựa, sau đó G vứt cóng đi. Số ma túy còn lại G cho vào tất đeo chân mang theo mình mục đích để sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 40 phút cùng ngày, G điều khiển xe máy chở N đi ăn. Khi đi đến lòng đường trước cửa số E L, phường H, quận H, Hà Nội thì bị lực lượng Cảnh sát cơ động dừng xe kiểm tra, phát hiện và bắt giữ như trên. Tại thời điểm bị kiểm tra thu giữ ma túy, do sợ bị xử lý nên G đã không hợp tác, không thừa nhận tang vật trên là của G. Tại trụ sở Công an phường H, G thành khẩn khai nhận tang vật tinh thể màu trắng bên trong túi ni lông thu giữ trong tất chân của G là ma túy “đá”, G mua để sử dụng. Việc G mang theo ma túy đá, N không biết, không liên quan. (BL: 71-84).

Chị Chu Thị Kim N khai phù hợp với lời khai của Phạm Hoàng G. Ngày 04/01/2024, N được G rủ đi ăn, N không biết việc G mang theo ma túy trong người. Chiếc điện thoại di động, N sử dụng để liên lạc với gia đình, bạn bè; chiếc xe máy thu giữ N mượn của em trai là Chu Thành C (sinh năm: 1995; HKTT: số B L, phường N, quận L, Hà Nội). (BL: 92-100).

Anh Chu Thành Công k: Anh C mua xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, số khung: RLHJA3920PY404547; số máy: JA39E-3012 vào ngày 15/3/2023 với giá 19.500.000 đồng, chưa đăng ký biển kiểm soát. Anh C cung cấp được hóa đơn gia trị gia tăng, phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng và phiếu bảo hành đối với chiếc xe máy trên. Ngày 04/01/2024, anh C cho chị gái ruột là Chu Thị Kim N mượn xe để đi lại. Anh C không quen biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của Phạm Hoàng G. (BL: 114-119).

Ngày 27/3/2024, Cơ quan CSĐT – Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại di động cho chị Chu Thị Kim N; trả lại chiếc xe máy cho anh Chu Thành C. Chị N, anh C đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về dân sự. (BL: 120-123).

Về đối tượng tên T bán ma túy cho G, G khai không biết nhân thân, lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh làm rõ để xử lý.

Tại bản cáo trạng số 80/CT-VKS ngày 05/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Phạm Hoàng G về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng truy tố và mong được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS: Xử phạt bị cáo từ 42 đến 48 tháng tù. Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung; Vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra - Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị cáo Phạm Hoàng G đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 04/01/2024, Phạm Hoàng G đã có hành vi cất giấu trái phép 3,325 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật tại lòng đường trước cửa số E phố L, phường H, quận H, Hà Nội.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Không.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý. Tệ nạn ma tuý đã và đang huỷ hoại sức khoẻ, nhân cách của nhiều người, là hiểm họa, đe dọa đến cuộc sống bình yên của mọi người, mọi nhà và toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm hình sự. Đồng thời, ma túy là con đường ngắn nhất dẫn tới HIV/AIDS. Bị cáo nhận thức rõ được việc tàng trữ, sử dụng các chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn phạm tội, do đó cần phải xử phạt bị cáo một hình phạt tù, cách ly với xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình, HĐXX cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung.

[6] Về tang vật: Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động kèm sim không liên quan đến hành vi phạm tội; tịch thu tiêu huỷ số ma tuý, 01 đôi tất không còn giá trị sử dụng.

[7] Các vấn đề khác:

  • Chị Chu Thị Kim N đã nhận lại tài sản là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, sim số: 0944719009, IMEI: 352850796483305, máy cũ, đã qua sử dụng và không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
  • Anh Chu Thành C đã nhận lại tài sản là 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, không biển kiểm soát, số khung: RLHJA3920PY404547; số máy: JA39E-3012273, xe cũ, đã qua sử dụng và không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
  • Về đối tượng tên T bán ma túy cho G, G khai không biết nhân thân, lai lịch, địa chỉ. Cơ quan điều tra không có điều kiện để xác minh nên HĐXX không xem xét.

[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

    Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng G 46 (Bốn mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 05/01/2024.

  3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
    • Tịch thu tiêu huỷ 3,325 gam Methamphetamine (PC09 trích lấy mẫu 0,089 gam, còn lại 3,236 gam); 01 đôi tất màu đen đã cũ.
    • Trả lại bị cáo Phạm Hoàng G 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, máy bị nứt vỡ góc màn hình kèm sim.

    (Số vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàn Kiếm, tình trạng được mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/4/2024).

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

    Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Hoàn Kiếm;
  • - Công an quận Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THA DS Q. Hoàn Kiếm;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger