Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VĨNH CHÂU

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HS-ST

Ngày 20/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Minh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Triệu Láth

Bà Thái Tín Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Đy Na - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Thạch Vành T (tên gọi khác: Không); sinh ngày 02/4/1995 tại V, Sóc Trăng; nơi cư trú: Khóm W, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch D (s) và bà Lâm Thị Cam M (s); vợ: Không; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/6/2024 đến nay (bị cáo có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Thạch Vành T: Ông Nguyễn Văn B - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S (ông B có mặt).

* Bị hại: Trần Văn C; sinh năm: 1940 (chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Trần Thị H; sinh năm: 1970 (có mặt)

Nơi cư trú: Ấp N, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Tăng Thị N; sinh năm: 2000 (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp L, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

* Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Sơn C1 – Cán bộ hưu trí Đài truyền thanh thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 09/02/2024, Thạch Vành T (đã có giấy phép lái xe mô tô hạng A1) điều khiển xe mô tô biển số 83P3-909.40 chở Tăng Huỳnh T1 (03 tuổi, con gái của N) và Tăng Thị N ngồi sau lưu thông trên đường Q đi từ hướng xã L, thị xã V về nhà ở khóm W, phường V, thị xã V (theo hướng Tây sang Đ). Khi đến đoạn đường Q thuộc khu vực ấp X, xã L, thị xã V thì xe môtô của T đã xảy ra va chạm với xe đạp do Trần Văn C điều khiển cùng chiều phía trước tại phần đường bên trái hướng đi (phần đường hướng Bắc), hậu quả làm Trần Văn C bị chấn thương sọ não được đưa cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện C2 đến ngày 13/02/2024 thì Trần Văn C tử vong, còn Thạch Vành T2, Tăng Thị N và Tăng Huỳnh T1 đều bị thương nhẹ, đối với chiếc xe mô tô và xe đạp bị hư hỏng.

Tại bản Kết luận giám định tử thi số 33/KLGĐPY-KTHS ngày 14/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận nguyên nhân Trần Văn C tử vong là do chấn thương sọ não.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 30/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã V, kết luận chiếc xe đạp không rõ nhãn hiệu màu bạc, sườn xe có chữ M.U KING @ bị thiệt hại trị giá 990.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã V thu giữ vật chứng gồm:

  • + 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 83P3-909.40 bị hư hỏng do tai nạn giao thông;
  • + 01 (một) chiếc xe đạp không rõ nhãn hiệu màu bạc, sườn xe có chữ M.U KING @ bị hư hỏng do tai nạn giao thông;

Tất cả những vật chứng nêu trên đã giao cho Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu quản lý.

Tại Cáo trạng số 76/CT-VKS-VC ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu truy tố bị cáo Thạch Vành T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Thạch Vành T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Thạch Vành T.

Đề nghị xử phạt bị cáo Thạch Vành T từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

  • - Trả lại cho bị cáo Thạch Vành T 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 83P3-909.40, số máy G3D4E810593, số khung 1010JY045160.
  • - Trả lại cho bị cáo Thạch Vành T số tiền 7.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp khắc phục cho bị hại (tuy nhiên người đại diện hợp pháp của bị hại không đồng ý nhận) theo Biên lai thu tiền số 0000280 ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.
  • - Trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Trần Thị H 01 (một) chiếc xe đạp không rõ nhãn hiệu màu bạc, sườn xe có chữ M.UKING @.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu xử lý bị cáo về trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật, về trách nhiệm dân sự thì không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Thạch Vành T thống nhất về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Kiểm sát viên đề nghị và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo Thạch Vành T từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo Thạch Vành T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng tội, bị cáo thống nhất với lời bào chữa của người bào chữa và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Thạch Vành T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo Thạch Vành T điều khiển phương tiện là xe mô tô tham gia giao thông không tuân thủ các quy tắc an toàn giao thông, đi không đúng phần đường quy định nên dẫn đến xảy ra va chạm với xe đạp của bị hại Trần Văn C, đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ năm 2008, hậu quả từ hành vi vi phạm của bị cáo T gây ra, đã làm cho bị hại Trần Văn C bị chấn thương sọ não tử vong nên đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi do bị cáo T thực hiện với lỗi vô ý vì quá tự tin, đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ nên cần xử lý bị cáo nghiêm minh trước pháp luật. Hành vi nêu trên của bị cáo Thạch Vành T đã hội đủ các yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Thạch Vành T thừa nhận là nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật. Xét tính chất, hành vi và hậu quả của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo nghiêm trước pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét về nhân thân, bị cáo không có tiền án, tiền sự; bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại với số tiền 7.000.000 đồng; bị cáo dân tộc Khmer nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Nên áp dụng để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

[6] Về án phí: Bị cáo Thạch Vành T có đơn xin miễn án phí do là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

[7] Xét lời đề nghị của vị Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo Thạch Vành T về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có cơ sở. Tuy nhiên Kiểm sát viên và người bào chữa đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là không có căn cứ, chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo. Bởi lẽ, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hậu quả dẫn đến bị hại tử vong. Đồng thời, hiện nay, tình hình tội phạm xâm phạm an toàn giao thông diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Vì vậy, đòi hỏi xử lý nghiêm đối với người phạm tội, nếu xử phạt bị cáo không nghiêm thì không đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm. Do đó, việc Kiểm sát viên và người bào chữa cho bị cáo đề nghị xem xét áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
  • Tuyên bố: Bị cáo Thạch Vành T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Xử phạt bị cáo Thạch Vành T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo chấp hành án.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
    • + Trả lại cho bị cáo Thạch Vành T số tiền 7.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp khắc phục cho bị hại (tuy nhiên người đại diện hợp pháp của bị hại không đồng ý nhận) theo Biên lai thu tiền số 0000280 ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.
    • + Trả lại cho bị cáo Thạch Vành T 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 83P3-909.40, số máy G3D4E810593, số khung 1010JY045160.
    • + Trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Trần Thị H 01 (một) chiếc xe đạp không rõ nhãn hiệu màu bạc, sườn xe có chữ M.UKING @.
  • Theo Phiếu nhập kho số NK09 ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.
  • - Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thạch Vành T.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND thị xã Vĩnh Châu;
  • - Công an thị xã Vĩnh Châu;
  • - CQTHAHS - Công an thị xã Vĩnh Châu;
  • - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;
  • - Bị cáo, NCQLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự sơ thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 73/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thạch Vành T Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger